LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã từng trải qua thời kỳ phát triển ồ ạt của các ngân hàng nên đã xảy ra đổ vỡ tín dụng. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Viê ̣t Nam hiện có khoảng 38 ngân hàng thương mại trong đó có 1 ngân hàng thương mại nhà nước, 37 ngân hàng thương mại cổ phần; 6 ngân hàng liên doanh, 66 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh, phòng giao dịch ngân hàng nước ngoài, khoảng 30 công ty tài chính và cho thuê tài chính, hơn 1. Một con số quá lớn so với nhu cầ u của nề n kinh tế.
Bên cạnh đó, tình trạng nợ quá hạn, nợ xấu vẫn đang tăng cao và trở thành bài toán ngày một khó giải quyết đối với NHNN. Thực trạng này cho thấy hệ thống ngân hàng Việt Nam đang tồn tại nhiều tổ chức hoạt động kém hiệu quả, không đáp ứng nhu cầu kinh tế và gây trì trệ cho bộ máy tài chính. Với chủ trương sẽ không để một ngân hàng nào phá sản, hiện nay Chính phủ và NHNN đã và đang thực hiện một loạt các biện pháp cải tổ, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng để lành mạnh hóa hệ thống tài chính và giúp các ngân hàng từng bước hồi phục sau khoảng thời gian suy thoái kinh tế. Trước những thách thức to lớn của tiến trình hội nhập, trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, cần phải đẩy mạnh khả năng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại thời kỳ tái cấu trúc mạnh mẽ và hội nhập như hiện nay, các nghiên cứu định lượng để đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại là cần thiết.
Hiện nay có nhiều nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng, trong đó theo Hefferman and Fu (2008), hai phương pháp tiếp cận định lượng riêng biệt để đánh giá hiệu quả ngân hàng, thứ nhất là phương pháp tham số - phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) và thứ hai là phương pháp phi tham số như phân tích bao dữ liệu (DEA) để ước tính lợi nhuận và chi phí biên hiệu quả. Tại Việt Nam, đã có những bằng chứng thực nghiệm về hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam của nhiều tác giả như luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Viết Hùng (2008) sử dụng phương pháp SFA và DEA để đánh giá hiệu quả chi phí kỹ thuật cho 32 NHTM Việt Nam trong thời kỳ 2001- 2005 hay bài nghiên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 cứu của tác giả Ngô Đăng Thành (2012) đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 1990-2010 trên tạp chí ứng dụng Tài chính và Ngân hàng, bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Sáng (2013) trên Tạp chí Phát triển & Hội nhập với đề tài “Phân tích nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng nguồn lực của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TPHCM” đều sử dụng mô hình DEA để đánh giá hiệu quả hoạt động của các NH. Tác giả nhận thấy hầu hết các bài nghiên cứu này sử dụng mô hình DEA vì điểm hiệu quả được giới hạn trong khoảng [0,1], tuy nhiên Mc Donald (2009) đã đưa ra bằng chứng cho rằng điểm hiệu quả từ mô hình DEA không được tạo ra bởi quá trình kiểm duyệt mối quan hệ tuyến tính giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc. Ngoài ra, các bài nghiên cứu thường tập trung phân tích tác động riêng lẻ của các nhân tố bên trong của từng ngân hàng Nguyễn Viết Hùng (2008), Nguyễn Minh Sáng (2013) hoặc các nhân tố bên ngoài như Ngô Đăng Thành (2012).
Một nghiên cứu của Cavallo và Rossi (2001) vận dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas trong mô hình chi phí để kiểm chứng tính hiệu quả kinh doanh của hệ thống NHTM Châu Âu trong giai đoạn 1992 -1997. Đây là mô hình được áp dụng rộng rãi để kiểm định tính hiệu quả của ngân hàng, có thể đánh giá các tác động tổng hợp của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động như trong các nghiên cứu khác của (Limi, 2004) cho các NHTM Paskistan giai đoạn 1998 – 2001, nghiên cứu của Alexander Mertens, Giovanni Urga (2001) cho 79 NHTM ở Ukraina trong năm 1998. Bên cạnh đó là khả năng ước lượng, dự báo cho các NHTM và so sánh giữa các NHTM giữa các quy mô khác nhau, trong các mẫu khác nhau. Trong nước cũng đã từng có Nguyễn Thị Việt Anh (2004) ước lượng hiệu quả chi phí dưới dạng hàm Cobb-Douglas, nhưng hạn chế của nghiên cứu là chỉ định dạng hàm và chỉ đánh giá cho Ngân hàng TMCP Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam.
Mặt khác, hạn chế của các nghiên cứu của Cavallo và Rossi (2001), (Limi, 2004) và Nguyễn Thị Việt Anh (2004) là chưa xét đến yếu tố lợi nhuận của ngân hàng. Vì vậy trong nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng dạng hàm trong nghiên cứu của Alexander Mertens, Giovanni Urga (2001, trang 293) sử dụng mô hình translog phát triển từ hàm sản xuất Cobb – Douglas để áp dụng nghiên cứu tính hiệu quả trong cả chi phí và lợi nhuận theo quy mô cho các NHTM TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Việt Nam, từ đó rút ra được những kết luận mang tính đóng góp về mặt chính sách cho các NHTM Việt Nam trước những đòi hỏi mang tính thực tiễn và nhu cầu bức thiết ở Việt Nam. Tác giả lựa chọn đề tài “Ứng dụng mô hình Cobb Douglas đánh giá hiệu quả hoạt động theo quy mô của các NHTM Viê ̣t Nam” với hy vọng đóng góp một phần vào công tác nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam, mục đích cuối cùng là góp phần làm lành mạnh hệ thống; gia tăng an toàn và hiệu quả của từng ngân hàng; giải quyết quy mô, cơ cấu ngân hàng cho tốt, an toàn cho người gửi và những người liên quan. Mục tiêu nghiên cứu: - Đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam - ứng dụng mô hình Cobb – Douglas.
- Nghiên cứu sự khác biệt về hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam theo quy mô - ứng dụng mô hình Cobb – Douglas. Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu: luận văn tập trung vào nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động theo quy mô của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu: luận văn nghiên cứu trong phạm vi 15 NHTM ở Việt Nam phân theo quy mô. Hạn chế của luận văn là chưa xét đến các ngân hàng liên doanh và NHTM 100% vốn Nhà nước (Agribank) do hạn chế về việc công bố thông tin, thu thập báo cáo tài chính của các ngân hàng này.
Số lượng các ngân hàng thương mại ở Việt Nam được xem xét, phân tích trong mô hình định lượng gồm có: 15 NHTM và thời kỳ nghiên cứu là 6 năm từ năm 2009 đến năm 2014. Trong 15 NHTM được nghiên cứu với quy mô phân bổ đều từ nhỏ và vừa, đến quy mô lớn với mảng kinh doanh hoạt động rộng và có lịch sử hoạt động lâu năm trong ngành ngân hàng Việt Nam. Vì vậy có thể giúp tìm hiểu và đánh giá tổng quát cho ngành ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Phƣơng pháp nghiên cứu: - Luận văn ứng dụng mô hình định lượng theo hàm sản xuất Cobb - Douglas đã đươ ̣c nghiên cứu cho các NHTM tại Ukraina áp dụng cho Việt Nam để đánh giá hiệu quả hoạt động theo quy mô của các NHTM. - Nguồn số liệu được sử dụng trong các phân tích dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập được từ các báo cáo của Ngân hàng Nhà nước và các bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong các báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại Việt Nam thời kỳ 2009 - 2014. Kết cấu luận văn: Chƣơng 1: Tổng quan về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại và mô hình Cobb – Douglas. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động theo quy mô của các NHTM Việt Nam - ứng dụng mô hình Cobb – Douglas.
Chƣơng 3: Các gợi ý chính sách, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ MÔ HÌNH COBB - DOUGLAS 1. Tổng quan về hiệu quả hoạt động của NHTM 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động của NHTM Theo Peter S.Rose, về bản chất NHTM cũng là một tập đoàn kinh doanh được tổ chức vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro có thể chấp nhận được.
Các ngân hàng cần kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng lợi nhuận với thu nhập cao giúp bảo toàn vốn, cơ sở cho tăng trưởng trong tương lai của các NHTM. Theo Hồ Vĩnh Đào (1998) phát biểu: “hiệu quả kinh tế còn gọi là hiệu ích kinh tế, là so sánh giữa chiếm dụng và tiêu hao trong hoạt động kinh tế (bao gồm lao động vật hóa và lao động sống) với thành quả có ích đạt được. Nói một cách đơn giản, nó là thước đo khách quan để đánh giá chính sách kinh doanh, hoạt động kinh tế.” Từ những khái niệm trên, có thể rút ra nhận thức về hiệu quả hoạt động của NHTM: Một là, hiệu quả hoạt động của NHTM là đạt được mục tiêu của ngân hàng, đó là hoạt động có lãi trong điều kiện nguồn lực khan hiếm. Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ sở vật chất để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng nói riêng và cho nền kinh tế nói chung.
Hai là, hiệu quả hoạt động của NHTM đồng nghĩa với việc đạt được sự thống nhất về lợi ích giữa khách hàng, ngân hàng và nền kinh tế, phù hợp với định hướng, mục tiêu của Nhà nước. Đó là mối quan hệ tạo tiền đề và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Ba là, hiệu quả hoạt động của NHTM phải thực hiện có hiệu quả trong cả cơ chế và hoạt động kinh doanh của NHTM. Tóm lại: Hiệu quả hoạt động của NHTM là một phạm trù kinh tế phản ánh sự thay đổi công nghệ, trình độ sử dụng các nguồn lực.
Nó phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, tức là khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí với mức rủi ro có thể chấp nhận được để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.