Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 2: Thực trạng hoạt động mua lại các NHTM Việt Nam Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm tại các NHTMCP mua lại ở Việt Nam Chương 4: Kết luận và giải pháp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 1. Các khái niệm Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là một thuật ngữ được sử dụng nhiều ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Thuật ngữ này được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “Mergers & Acquisitions”, viết tắt là M&A, thể hiện hoạt động hai hay nhiều doanh nghiệp kết hợp lại với nhau nhằm đạt được những mục tiêu đã được xác định trước trong chiến lược kinh doanh của mình.
Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt nên sáp nhập và mua lại ngân hàng cũng có bản chất tương tự như sáp nhập và mua lại doanh nghiệp nói chung rất đa dạng, được diễn ra dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau: 1. Bên bị sáp nhập gọi là ngân hàng mục tiêu (target bank). Ngân hàng mục tiêu sẽ chấm dứt sự tồn tại sau khi sáp nhập. Khi đó, thông thường thương hiệu của ngân hàng mục tiêu sẽ mất đi, chuyển tên cùng ngân hàng tiếp nhận.
Hợp nhất (consolidation) Hợp nhất là hình thức hai hay một số ngân hàng (gọi là ngân hàng bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một ngân hàng mới (gọi là ngân hàng hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang ngân hàng hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các ngân hàng bị hợp nhất. Mua lại (hay còn gọi là thâu tóm – Acquisitions) Mua lại là hình thức kết hợp mà một ngân hàng mua lại một phần hoặc toàn bộ cổ phần của ngân hàng kia. Mục đích của hoạt động này nhằm hướng đến việc thâu tóm thị trường, mạng lưới phân phối hoặc tận dụng mạng lưới phân phối để đưa ra TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 thị trường những sản phẩm, dịch vụ mới. Các đối tượng thường được chú ý đến trong trường hợp này là những ngân hàng đang hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có thị phần ổn định.
Tuy vậy, đôi khi hoạt động mua lại cũng gắn liền với việc mua bán nợ và các đối tượng được nhắm tới là các ngân hàng đang trong tình trạng chuẩn bị giải thể, phá sản, không có khả năng duy trì hoạt động kinh doanh của mình. Hoạt động này cũng có thể được gọi bằng cái tên khác là tái cấu trúc ngân hàng. Hình thức mua lại vừa đề cập thường do một ngân hàng lớn mua lại một ngân hàng nhỏ hơn. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có trường hợp một ngân hàng giành quyền quản lý và điều khiển một ngân hàng lớn hơn hoặc một ngân hàng có tiếng lâu đời và giữ lại danh tiếng đó cho ngân hàng lớn.
Đây được gọi là nắm quyền kiểm soát ngược (reverse takeover). Trong giai đoạn từ 2005-2008, hoạt động mua lại tại thị trường Việt Nam diễn ra phổ biến trong lĩnh vực tài chính- ngân hàng. Đa số các thương vụ mua lại trong lĩnh vực ngân hàng có giá trị chiếm tỷ trọng lớn đều có sự tham gia của ít nhất một bên là ngân hàng nước ngoài như: ANZ đầu tư vào NH TMCP Sài Gòn Thương Tín, HSBC mua cổ phần của Techcombank, BNP Paribas (NP) mua lại 15% cổ phần của OCB, Maybank có tỷ lệ sở hữu cổ phần tại NH An Bình lên 20%….Các hoạt động mua bán cổ phần của ngân hàng ở Việt Nam, đa số diễn ra trong tinh thần hợp tác, hai bên cùng đạt được những thỏa thuận nhất định, các ngân hàng không trở thành đơn vị trực thuộc và cũng không thành lập pháp nhân mới, mà thường cam kết hỗ trợ để cùng phát triển. Do đó, thực chất các thương vụ mua lại tại các ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn này chỉ nghiêng về đầu tư tài chính, liên kết kinh doanh.
Bên cạnh đó, trong lĩnh vực ngân hàng, doanh nghiệp nước ngoài bị hạn chế mua cổ phần không quá 30% trong các thương vụ mua bán cổ phần với ngân hàng Việt Nam nên việc mua lại hoàn toàn là không thể. Vì vậy, luận văn này đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần sau khi mua lại tại Việt Nam thực chất là đánh giá hiệu quả của các ngân hàng được mua lại một phần từ các doanh nghiệp, các ngân hàng nước ngoài trong giai đoạn từ năm 2005-2008. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hiệu quả hoạt động Hiệu quả hoạt động được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh (Draft, 2008).
Có nhiều cách đo lường hiệu quả hoạt động như sử dụng chỉ số ROA, ROE (Topak, 2011). Các chỉ số này được sử dụng hầu như thường xuyên trong các nghiên cứu học thuật để đo lường hiệu quả hoạt động tài chính. Hiệu quả hoạt động của các NHTM có thể được đánh giá qua hai nhóm chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối với hiệu quả tương đối: Các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối cho phép đánh giá hiệu quả hoạt động theo cả chiều sâu và chiều rộng. Tuy nhiên, loại chỉ tiêu này trong một số trường hợp lại gặp khó khăn khi so sánh với các ngân hàng có quy mô khác nhau.
Các chỉ tiêu hiệu quả tương đối có thể được thể hiện dưới dạng tĩnh (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh tế/chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó hoặc dạng nghịch là hiệu quả hoạt động = chi phí/kết quả kinh tế) hoặc dưới dạng động hay dạng cận biên (hiệu quả hoạt động = mức tăng kết quả kinh tế/mức tăng chi phí). Những chi tiêu này rất thuận tiện so sánh theo thời gian và không gian, cũng như cho phép so sánh hiệu quả các ngân hàng có quy mô khác nhau, các thời kỳ khác nhau (Nguyễn Quốc Trung, 2013). Các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng 1. Khả năng sinh lời Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu - ROE Là chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận thuần với vốn tự có bình quân của ngân hàng.
Chỉ tiêu này được phản ánh qua hệ số ROE (Return on Equity) ROE = Lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu Ý nghĩa: Một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khả năng sinh lời trên một đồng vốn của ngân hàng. Hệ số càng lớn, khả năng sinh lời tài chính càng lớn. Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản- ROA Chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận ròng (lãi ròng) với tổng tài sản có trung bình – gọi là hệ số ROA (Return on Asset) ROA = Lợi nhuận ròng/tổng tài sản Ý nghĩa: một đồng Tài sản Có tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Chỉ tiêu này cho thấy chất lượng của công tác quản lý tài sản Có (tích sản). Tài sản Có sinh lời càng lớn thì hệ số nói trên càng lớn. Hiệu quả quản lý Tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập thuần Chỉ tiêu đánh giá thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập thuần - NIIR NIRR= Thu nhập lãi thuần/tổng thu nhập thuần Ý nghĩa: Chỉ số này phản ánh mức đóng góp từ hoạt động tín dụng vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập thuần - EFF EFF= Chi phí hoạt động/ Tổng thu nhập thuần Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả quản trị chi phí so với tổng thu nhập thuần 1. Tính thanh khoản Tổng dư nợ cho vay trên Tổng vốn huy động - LTD LTD = Dư nợ cho vay/ Tổng vốn huy động Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sử dụng vốn huy động vào việc cho vay vốn của ngân hàng.
Thông thường theo cách nhìn của nhiều người, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn huy động được để cho vay. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ quá cao sẽ gây nên rủi ro thanh khoản đối với ngân hàng. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản – LTA LTA= Tổng dư nợ cho vay/ tổng tài sản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Tỷ lệ này phản ánh rủi ro thanh khoản trong hoạt động ngân hàng, nó cho biết phần tài sản có được phần bổ vào những loại tài sản có tính thanh khoản kém nhất. Bởi vậy, chỉ số này phần nào cho biết năng lực quản trị ngân hàng của các nhà quản lý.
Tính đòn bẩy Tỷ lệ tổng nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu- DER Tỷ số này (thường tính bằng %) được tính bằng cách lấy tổng nợ (tức là gồm cả nợ ngắn hạn lẫn nợ dài hạn) trong một thời kỳ nào đó chia cho giá trị vốn chủ sở hữu trong cùng kỳ. DER = Tổng nợ phải trả/vốn chủ sở hữu Ý nghĩa: Tỷ số này cho biết quan hệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu. Tỷ số này nhỏ có thể hàm ý ngân hàng chịu rủi ro thấp. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản - ETA ETA= Vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản Theo bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF, tỷ lệ vốn trên tổng tài sản được đánh giá là một trong các chỉ số khuyến khích để đánh giá độ lành mạnh tài chính của NHTM (IMF, 2006).
Chỉ số này phản ánh khả năng tài trợ tổng tài sản từ vốn tự có của ngân hàng. Tỷ số này cao chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của ngân hàng. Các nghiên cứu hiệu quả hoạt động ngân hàng mua lại trên thế giới V.Premalatha (Tháng 3/2013) đã có nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở Ấn Độ trong suốt giai đoạn sau mua lại. Bằng cách sử dụng phân tích tỷ lệ tài chính, nhóm tác giả so sánh và phân tích các tỷ lệ an toàn vốn: tỷ lệ nợ/vốn cổ phần (DER), tổng tạm ứng/tổng tài sản (TATAR), tỷ lệ vốn cổ phần/tổng tài sản (ECTAR); tỷ lệ hiệu quả quản lý: tổng tạm ứng/tổng tiền gửi (TATDR), tăng trưởng tổng tài sản (AGR), tăng trưởng tổng tiền gửi (TDR), tỷ lệ doanh thu và lợi nhuận: tỷ lệ chi trả cổ tức (DPR), lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA); tỷ lệ đòn bẩy trong giai đoạn trước mua lại 2003-2006 và giai đoạn sau mua lại 2008-2011.
Sau đó, từ các chỉ số tài chính, nhóm tác giả dùng phương pháp kiểm định trị trung bình của 2 mẫu phụ thuộc (Paired-samples T-test) để xác TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.