Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về hiệu quả của NHTM trong quá trình tái cấu trúc Chương 3: Thực trạng hiệu quả của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc Chương 4: Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc Chương 5: Kết luận và khuyến nghị về hiệu quả của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc 1. Ý nghĩa về khoa học và thực tiễn của đề tài - Đề tài đã tổng hợp lại các sơ sở lý luận về hiệu quả của NHTM và tái cấu trúc hệ thống NHTM, giới thiệu một số phương pháp nghiên cứu phổ biến được sử dụng trên thế giới. Các kiến thức nền tảng này có thể được tham khảo để tiếp tục sử dụng trong việc nghiên cứu đối với các đề tài khác có liên quan. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Đề tài đã trình bày một cách tổng quan về thực trạng hiệu quả sản xuất, hiệu quả trung gian tài chính của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc theo chủ trương của Chính phủ từ năm 2011-2014 và đưa ra nhận định về mức độ hiệu quả sản xuất và hiệu quả trung gian tài chính của các NHTM Việt Nam trong thời gian này.
- Đề tài đóng góp các khuyến nghị cụ thể về hiệu quả của các NHTM Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CỦA NHTM TRONG QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC 2. Cơ sở lý luận về hiệu quả của NHTM 2. Khái niệm hiệu quả của NHTM Theo lý thuyết kinh tế doanh nghiệp, hoạt động của ngân hàng cũng như một doanh nghiệp bất kỳ đều diễn ra trong một môi trường kinh doanh mà tại đó các nhà quản lý đều cố gắng để tối đa hóa lợi nhận bằng cách cố gắng điều hành hoạt động sản xuất theo cách hiệu quả nhất có thể (Evanoff và Israilevich, 1991).
Theo Kablan (2010), hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả với nguồn lực tối thiểu, được đo lường bằng cách so sánh với đường biên sản xuất. Nói cách khác, đó là khả năng kết hợp tối ưu các yếu tố đầu vào để tạo ra một đơn vị đầu ra. NHTM sử dụng các nguồn lực như: lao động, cơ sở vật chất (vốn vật chất), nguồn tài chính (vốn tài chính) cho hoạt động: nhận tiền gửi, cho vay, đầu tư và cung cấp dịch vụ. Tương tự như vậy, trong nghiên cứu của mình về tái cấu trúc và hiệu quả hoạt động các NHTM Đài Loan, Chang và cộng sự (2010) cũng nêu rằng hiệu quả thể hiện khả năng quản lý trong việc kiểm soát chi phí và sử dụng nguồn lực để tạo ra đầu ra.
Trong các nghiên cứu về hoạt động ngân hàng, một số tác giả theo cách tiếp cận sản xuất coi ngân hàng như các đơn vị sản xuất: Benston (1965), Ferrier và cộng sự (1990), Schaffinit và cộng sự (1997), Zenios và cộng sự (1999); một số tác giả theo cách tiếp cận trung gian xem ngân hàng như các trung gian tài chính: Sealey và Lindley (1977), Maudos và cộng sự (2002), Casu và cộng sự (2003); và một số khác theo cách tiếp cận hiện đại cho rằng ngân hàng đóng cả hai vai trò này: Frexias và Rochet (1997), Denizer và cộng sự (2000), Athanassopoulos và Giokas (2000). Tóm lại, theo các cách tiếp cận này, hiệu quả của ngân hàng bao gồm hai khía cạnh cơ bản là hiệu quả sản xuất (Productive efficiency) và hiệu quả trung gian tài chính (Intermediate efficiency). Theo cách tiếp cận sản xuất: Các NHTM cũng được xem như là các nhà cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Các đầu vào thiết lập theo cách tiếp cận này bao gồm các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 yếu tố có trạng thái vật lý (lao động, vật liệu, không gian, các thông tin hệ thống,.
), các chi phí cần thiết để thực hiện giao dịch tài chính hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Các đầu ra theo cách tiếp cận này thể hiện các dịch vụ tài chính ngân hàng cung cấp cho khách hàng và được đo lường bởi số lượng và loại giao dịch, số lượng văn bản xử lý được hoặc các dịch vụ chuyên cung cấp trong một khoảng thời gian nhất định. Trong trường hợp không có số liệu lưu lượng giao dịch chi tiết thì thay thế bằng các dữ liệu về tiền gửi, thu nhập cho vay, dịch vụ được cung cấp. Cách tiếp cận này chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu hiệu quả của các ngân hàng cụ thể (Benston, 1965).
Theo cách tiếp cận trung gian: Các lý thuyết kinh tế vi mô truyền thống cho rằng ngân hàng và công ty chỉ khác nhau ở đặc điểm hoạt động. Các ngân hàng sản xuất dịch vụ trung gian tài chính thông qua huy động vốn từ nền kinh tế để đầu tư vào các tài sản sinh lãi. Cách tiếp cận này bao gồm cả chi phí hoạt động và lãi suất là yếu tố đầu vào, trong khi các khoản vay và tài sản lớn khác được tính là kết quả đầu ra. Tuy nhiên, có nhiều tranh luận về phương pháp này trong việc xác định tiền gửi phải được coi là đầu vào hay đầu ra (Sealey và Lindley, 1977).
Theo Elyasiani và Mehdian (1990a, 1990b) và Mester (1987), đầu ra trong hoạt động trung gian tài chính là tài sản của ngân hàng, trong khi các khoản tiền gửi, vốn, lao động và được xem như là yếu tố đầu vào. Khoản mục quan trọng nhất trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng là thu nhập lãi, phụ thuộc vào lượng cho vay. Do đó, khả năng phát triển tín dụng của ngân hàng là rất quan trọng trong các giai đoạn trung gian tài chính. Nếu vốn cho vay được xem như là một sản phẩm thì đơn giá sản phẩm là lãi suất cho vay.
Ngoài ra, nguồn vốn đi vay là các khoản tiền gửi của các chủ sở hữu vốn. Do đó, tiền gửi có thể được xem như là đầu vào để tạo ra các khoản vay như một sản phẩm trong giai đoạn sản xuất. Đơn giá là lãi suất tiền gửi, và chi phí kinh doanh. Cách tiếp cận hiện đại kết hợp và cải tiến từ hai cách tiếp cận trên khi đưa một số hoạt động cụ thể của ngân hàng vào lý thuyết cổ điển.
Nghiên cứu về việc xác định các đầu ra trong hoạt động của NHTM đã hình thành nên nhiều phương pháp tiếp cận hiện đại cụ thể hơn như: (i) Tiếp cận theo tài sản; (ii) Tiếp cận theo chi phí sử dụng; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 (iii) Tiếp cận theo giá trị gia tăng; (iv) Tiếp cận theo phương diện hoạt động.(Frexias và Rochet, 1997) (i) Tiếp cận theo tài sản (Sealy & Lindley, 1977) tương tự như cách tiếp cận trung gian trong lý thuyết cổ điển khi tập trung vào vai trò trung gian tài chính giữa người gửi tiền và người sử dụng tài sản cuối cùng của ngân hàng. Tiền gửi và các khoản nợ khác, cùng với nguồn lực thực tế (lao động, vốn.) được xác định là đầu vào, trong khi đầu ra bao gồm các tài sản của ngân hàng như cho vay, hoặc tiền đi gửi. (ii) Tiếp cận theo chi phí sử dụng (Hancock, 1985) xác định liệu một sản phẩm tài chính là một đầu vào hay đầu ra dựa trên cơ sở mức độ đóng góp của vào doanh thu ròng của ngân hàng. Nếu lợi nhuận tài chính trên một tài sản lớn hơn chi phí cơ hội của vốn, hoặc nếu các chi phí tài chính của các khoản nợ phải trả ít hơn chi phí cơ hội thì nó được coi là kết quả đầu ra.
Ngược lại, nó được coi là yếu tố đầu vào. (iii) Tiếp cận giá trị gia tăng (Berger, Hanweck & Humphrey, 1987) xác định rằng các số liệu trên bảng cân đối kế toán (tài sản hoặc nợ phải trả) như là đầu ra, đóng góp vào giá trị gia tăng của ngân hàng. Ví dụ như, kinh doanh gắn liền với những nhu cầu về nguồn lực thực. Nói chung, theo cách tiếp cận này, các hạng mục chính của các khoản tiền gửi (ví dụ: tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn) và cho vay (ví dụ: cho vay khách hàng, cho vay các TCTD, tiền gửi tại các TCTD khác) được xem như là kết quả đầu ra vì chúng thể hiện giá trị gia tăng của ngân hàng.
Các phương pháp tiếp cận hiện đại tìm cách tích hợp thêm một số biện pháp đo lường rủi ro, chi phí đại diện và chất lượng của các dịch vụ ngân hàng. Một trong những sáng tạo của phương pháp này là đề cập đến chất lượng tài sản và xác suất thất bại của ngân hàng trong tính toán các chi phí bằng việc áp dụng một số chỉ tiêu của phương pháp CAMELS. (iv) Tiếp cận hoạt động (hoặc tiếp cận dựa trên thu nhập) (Leightner và Lovell, 1998) tương tự như cách tiếp cận sản xuất trong lý thuyết cổ điển khi xem ngân hàng là đơn vị kinh doanh với mục tiêu cuối cùng là tạo thu nhập từ tổng chi phí phát sinh cho hoạt động kinh doanh. Theo đó, cách tiếp cận này định nghĩa các đầu ra của ngân hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 là tổng doanh thu (từ lãi vay hoặc từ các hình thức cung cấp dịch vụ phi lãi suất khác) và các đầu vào như tổng chi phí (lãi suất và chi phí hoạt động).
Từ các nghiên cứu trên, theo tác giả có thể khái quát khái niệm hiệu quả của NHTM như sau: Hiệu quả của NHTM là khả năng kết hợp tối ưu nhằm tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào như nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, nhân lực và các yếu tố khác trong các hoạt động trung gian tài chính và kinh doanh của bản thân NHTM như huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp dịch vụ, để đạt được kết quả đầu ra tối đa. Phân loại hiệu quả của NHTM - Phân loại hiệu quả của NHTM theo quan điểm hoạt động: Theo quan điểm hoạt động, hiệu quả của NHTM tập trung vào hai hoạt động chính của NHTM: (i) Hiệu quả sản xuất (Productive Efficiency) và (ii) Hiệu quả trung gian tài chính (Intermediate Efficiency) (Das và Ghosh, 2006). (i) Hiệu quả sản xuất (Productive Efficiency) là sự kết hợp tối ưu nhằm tối đa hóa sản phẩm đầu ra với một lượng tối thiểu yếu tố đầu vào trong bản thân các hoạt động kinh doanh của NHTM. Đo lường hiệu quả sản xuất bao gồm việc xác định và đánh giá hiệu quả chuyển hóa các yếu tố đầu vào (như chi phí hoạt động, chi phí lãi vay, các chi phí vốn khác) thành các yếu tố đầu ra (thu nhập lãi, thu nhập phi lãi).