phần mở đầu ra, luận văn có kết cấu 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại, mô hình CAMEL và phƣơng pháp bao dữ liệu DEA. Chƣơng 2: Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nƣớc theo mô hình CAMEL và phƣơng pháp bao dữ liệu DEA Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại cổ phần thuộc sở hữu nhà nƣớc. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI THEO MÔ HÌNH CAMEL VÀ PHƢƠNG PHÁP BAO DỮ LIỆU DEA 1. Khái quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Trong cơ chế thị trƣờng, mục tiêu bao trùm của các tổ chức kinh tế là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hoá lợi nhuận.
Môi trƣờng kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi tổ chức kinh tế phải có chiến lƣợc kinh doanh thích hợp. Kinh doanh vốn đƣợc xem là một nghệ thuật, đòi hỏi sự tính toán nhanh nhạy, biết nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lƣợc. Theo đó, hiệu quả hoạt động luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh của tổ chức. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại thể hiện trên các phƣơng diện sau: - Hiệu quả kinh tế: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài liệu, vật lực, tiền vốn) để đạt đƣợc mục tiêu đề ra.
- Hiệu quả đầu tƣ: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm đem lại cho nhà đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra. - Hiệu quả xã hội: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt đƣợc các mục tiêu xã hội nhất định, đó là giải quyết công ăn việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế, giảm số ngƣời thất nghiệp, nâng cao trình độ cho ngƣời lao động, cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cũng nhƣ đảm bảo mức sống tối thiểu cho ngƣời lao động. Theo Ngô Đình Giao (1997) “Hiệu quả kinh tế của một hiện tƣợng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt đƣợc mục tiêu xác định”. Nó biểu hiện mối quan hệ tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh đƣợc chất lƣợng của hoạt động kinh tế đó, độ chênh lệch giữa hai đại lƣợng này càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Còn ECB (European Central Bank) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 (9/2010) lại cho rằng: “hiệu quả hoạt động là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững”. Trong khi đó, Adel Bino & Shorouq Tomar (2007) khi xét về mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động ngân hàng, hai ông định nghĩa đơn giản: hiệu quả hoạt động là kết quả cuối cùng của hoạt động đó. Nhƣ vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt đƣợc mục tiêu, thể hiện mối tƣơng quan giữa đầu ra và đầu vào bỏ ra để có đƣợc hiệu quả đặt ra cũng nhƣ khả năng giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. Trong luận văn này sẽ tiếp cận hiệu quả hoạt động kinh doanh trên ba phƣơng diện: Thứ nhất: hiệu quả hoạt động kinh doanh đƣợc xem xét trong mối quan hệ giữa kết quả đạt đƣợc với chi phí đã bỏ ra.
Thứ hai: hiệu quả hoạt động kinh doanh đƣợc xem xét trong mối tƣơng quan giữ đầu vào và đầu ra. Tức là với đầu ra có đƣợc thì việc sử dụng đầu vào đã hợp lý hay chƣa. Thứ ba: hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng đƣợc xem xét khía cạnh an toàn, rủi ro. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Nhóm yếu tố khách quan Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước: Ngành ngân hàng là một ngành huyết mạch của nền kinh tế, do đó môi trƣờng kinh tế, chính trị xã hội ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động toàn ngành nói chung và NHTM nói riêng.
Khi môi trƣờng kinh tế, chính trị và xã hội ổn định, quá trình sản xuất của nền kinh tế đƣợc diễn ra bình thƣờng, các doanh nghiệp trong nền kinh tế đảm bảo khả năng mƣợn đƣợc vốn và hoàn trả vốn, nhƣ vậy hoạt động của ngân hàng cũng sẽ ổn định. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Khi nền kinh tế tăng trƣởng cao và ổn định, các khu vực khác trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động, do đó cầu về vốn vay tăng làm cho khu vực ngân hàng dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng, nợ xấu trong ngân hàng cũng giảm vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế tốt nhƣ vậy sẽ đƣợc nâng cao. Nhƣ vậy, trong hoàn cảnh này, vai trò làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm và đầu tƣ của ngân hàng đƣợc phát huy tối đa. Trái lại, nhu cầu vốn vay giảm, nguy cơ nợ quá hạn tăng, nợ xấu cao khi môi trƣờng kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn, khi đó hiệu quả hoạt động ngân hàng giảm mạnh.
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một xu thế tất yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Toàn cầu hoá tạo ra mối quan hệ gắn bó, sự tuỳ thuộc lẫn nhau và những tác động qua lại hết sức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế. Thông qua quá trình tự do hoá và thuận lợi hoá thƣơng mại dịch vụ đầu tƣ, toàn cầu hóa tạo cho các quốc gia nói chung và hệ thống ngân hàng các nƣớc nói riêng nhiều cơ hội mới nhƣ tranh thủ đƣợc các nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các nền kinh tế phát triển. Bên cạnh đó, ngành ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức từ quá trình hội nhập, nhƣ phải cạnh tranh với những tập đoàn tài chính lớn mạnh, đầy tiềm lực về vốn, công nghệ, quản lý… Do đó, hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, song tiến trình tự do hoá tài chính ngân hàng ở mỗi quốc giai phải đƣợc tiến hành với những bƣớc đi phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế đất nƣớc đó, phải tiến hành phát huy nội lực và nâng cao năng lực quản lý, phải thực hiện nhiều quá trình tự cải cách hoàn thiện để đảm bảo hiệu quả hoạt động và nâng cao sức cạnh tranh so với các quốc gia khác.
Môi trường pháp lý: Môi trƣờng pháp lý là cơ sở tiền đề cho các ngành kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Môi trƣờng pháp lý bao gồm tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống luật, các văn bản dƣới luật, việc chấp hành luật và trình độ dân trí. Trong đó, hệ thống luật đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành nền kinh tế thị trƣờng. Nếu hệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thống luật pháp đƣợc xây dựng không phù hợp với các yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì sẽ là một rào cản lớn cho quá trình phát triển kinh tế.
Xét về ngành ngân hàng nói riêng: đối với các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển, họ có một hệ thống luật khá đầy đủ và đƣợc sửa đổi bổ sung nhiều lần trong quá trình phát triển của mình, môi trƣờng pháp lý của họ đang ngày càng hoàn thiện hơn, hệ thống ngân hàng theo đó đáp ứng ngày càng hiệu quả vai trò trung gian tài chính của mình. Ngƣợc lại, môi trƣờng pháp lý sẽ gây rủi ro, trở ngại cho các hoạt động của ngân hàng khi môi trƣờng pháp lý đó chƣa hoàn thiện hoặc cách thức thi hành còn chƣa đảm bảo tính thời gian, tính nghiêm minh – đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển.2 Nhóm yếu tố chủ quan Năng lực tài chính: Trƣớc tiên, yếu tố tài chính quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại là vốn. Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hƣởng đến quy mô kinh doanh của ngân hàng nhƣ: khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tƣ tài chính và trang bị công nghệ. Ngoài ra, vốn chủ sở hữu dùng để bù đắp các khoản thiệt hại từ rủi ro trong quá trình hoạt động nhƣ nợ khó đòi, lỗ trong hoạt động nghiệp vụ chứng khoán.
Do đó, vốn chủ sở hữu ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả hoạt động ngân hàng. Nhƣ vậy, vốn là điều kiện cơ bản đảm bảo quy mô kinh doanh của một ngân hàng và khả năng bù đắp tổn thất có thể xảy ra, quyết định phần lớn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tiếp theo, tài sản có cũng là một nhân tố tác động lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Một NHTM phải đảm bảo toàn bộ giá trị tài sản có phải lớn hơn các khoản nợ thanh toán ở mọi thời điểm, để tránh mất khả năng thanh toán dẫn đến nguy cơ phá sản.
Tuy nhiên, nếu chỉ xét về khối lƣợng tài sản có thôi thì chƣa đủ mà cần phải xem các tài sản có chuyển thành tiền ngay đƣợc hay không, để tránh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 rơi vào trƣờng hợp có đủ khả năng trừ nợ nhƣng lại thiếu thanh khoản để trang trải các khoản nợ tức thời, cũng coi nhƣ ngân hàng thiếu khả năng thanh toán và có nguy cơ dẫn đến phá sản. Các ngân hàng phải giữ rủi ro trong giới hạn nhất định, đảm bảo thanh khoản theo mức độ cần thiết trong kết cấu tài sản có và mức độ sinh lãi chấp nhận để có thể đứng vững và cạnh tranh đƣợc trong môi trƣờng kinh doanh, quá chú trọng đến yếu tố này hoặc yếu tố khác thì sẽ ảnh hƣởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh. Nếu một ngân hàng thận trọng về rủi ro, nâng cao quá mức về thanh khoản thì sẽ dẫn đến lợi nhuận giảm, nguy hại hơn là làm cho khách hàng mất tin tƣởng, đi tìm nơi khác có lợi cho họ hơn. Ngƣợc lại, nếu chấp nhận rủi ro cao, thanh khoản thấp để mở rộng các nghiệp vụ sinh lời sẽ có nguy cơ mất khả năng thanh toán, dễ dẫn đến phá sản.
Năng lực quản trị, điều hành: Quản trị ngân hàng có vai trò rất quan trọng, ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM.