CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. GIẢI PHẪU THÀNH BỤNG TRƯỚC BÊN 1. Các cơ thành bụng trước bên Từ nông vào sâu, thành bụng trước - bên được cấu tạo bởi da, mạc nông các cơ mạc ngang và phúc mạc [4], [35]. Có 4 cơ chính: ở phía trước có cơ thắng bụng ở phía bên có ba cơ rộng, dẹt tính từ nông vào sâu là cơ chéo bụng ngoài, cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng [36].
Cơ thẳng bụng là một cơ dài từ mào mu và khớp mu chạy lên bám vào các sụn sườn V - VII và mỏm mũi kiếm xương ức, tức là đi suốt chiều dài thành bụng trước. Mặt trước của cơ bị chia cắt bởi từ 3 đến 5 dải mô xơ chạy ngang gọi là các đường gân cắt ngang. Ở thành bụng bên, ba lớp cơ dẹt cũng đủ tạo nên một thành cơ vững chắc vì các sợi của mỗi cơ chạy theo một hướng khác nhau. Các sợi của cơ chéo bụng ngoài chạy chêch xuống dưới và vào trong; các sợi của cơ chéo bụng trong chạy thẳng góc với các sợi của cơ chéo bụng ngoài; các sợi của cơ ngang bụng chạy ngang quanh thành bụng.
Nhờ sự sắp xếp này mà thành bụng trở nên khoẻ, các tạng trong ổ bụng không thể chui ra ngoài qua khe giữa các bó sợi cơ. Khi chạy tới gần bờ ngoài cơ thẳng bụng, mỗi cơ dẹt của thành bụng bên đều liên tiếp với một lá cân (gân dẹt). Cân của cả ba cơ tiếp tục chạy trước hoặc sau cơ thẳng bụng để đi vào đường giữa bụng và tạo nên bao cơ thẳng bụng với hai lá trước và sau. Ở 3/4 trên thành bụng trước, lá trước bao cơ thẳng bụng do cân cơ chéo bụng ngoài và lá trước cân cơ chéo bụng trong tạo nên; lá sau do cân cơ ngang bụng và lá sau cân cơ chéo bụng trong tạo nên.
4 Ở 1/4 dưới thành bụng trước, cân của cả ba cơ đi trước cơ thẳng bụng và tạo nên lá trước của bao cơ, lá sau bao cơ thẳng bụng ở đoạn này do mạc ngang tạo nên. Cân của ba cơ dính liền với nhau và với cân của ba cơ bên đối diện tại đường giữa-trước để tạo nên một đường đan gân gọi là đường trắng. Đường trắng nằm giữa hai cơ thẳng bụng và trải dài từ mỏm mũi kiếm xương ức tới khớp mu. Tác dụng của các cơ thành bụng trước bên: Với tính chất như một nhóm cơ, các cơ của thành bụng trước bên bảo vệ và giữ cho các tạng bụng không sa ra ngoài; gấp, nghiêng bên và xoay cột sống; nén ép các tạng bụng trong lúc thở ra gắng sức; và tạo ra áp lực cần thiết trong ổ bụng trong lúc đại tiện, tiểu tiện và sinh đẻ.
Mặt phẳng cơ ngang bụng là khoang ảo được tạo bởi phía trước là cơ chéo bụng trong, còn phía sau là cơ ngang bụng. Trước khi mổ lấy thai thì khoảng cách từ da đến mặt phẳng cơ ngang bụng khoảng 2,9 cm còn sau khi mổ lấy thai thì khoảng cách này khoảng 3,9 cm [37]. Thần kinh chi phối thành bụng trước bên Thần kinh chi phối xuất phất từ nhánh trước của sợi thần kinh tuỷ sống từ T7 đến L1. Những sợi này bao gồm các sợi thần kinh liên sườn (T7 - T11), sợi thần kinh dưới sườn (T12) và các sợi thần kinh chậu hạ vị, chậu bẹn (L1).
Vùng da được thần kinh chi phối của thành bụng [12] 5 Các nhánh trước của đốt sống ngực T7 - T11 tiếp tục đi từ khoang liên sườn vào thành bụng ở giữa cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng cho đến khi tiếp cận được cơ thẳng bụng, tại đây chúng sẽ xuyên qua cơ thẳng bụng và phân thành các nhánh tận chi phối vùng da phía trước thành bụng [12], [13]. Khoảng giữa của đường đi các nhánh thần kinh này đi xuyên qua cơ chéo bụng ngoài rồi tạo thành các nhánh bên dưới da phân thành nhánh trước và nhánh sau chi phối cảm giác cho cơ chéo bụng ngoài và cơ vuông thắt lưng [38]. Nhánh trước của đốt sống ngực T12 hợp với dây thần kinh chậu hạ vị và tạo nhánh đến cơ tháp. Các nhánh bên này xuyên qua cơ chéo bụng trong và cơ chéo bụng ngoài đi xuống mào chậu và cung cấp cảm giác cho phía trước của vùng cơ mông.
Thần kinh chậu hạ vị (L1) ngay vị trí giữa cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng vùng gần mào chậu phân thành các nhánh bên và nhánh trước, các nhánh này cung cấp cảm giác cho một phần da vùng mông và vùng hạ vị. Thần kinh chậu bẹn (L1) hợp với thần kinh chậu hạ vị ngay giữa cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng gần mặt trước mào chậu. Nó cung cấp cảm giác cho vùng trên và giữa của đùi và một phần da bao phủ vùng cơ quan sinh dục ngoài. Đường đi dây thần kinh chi phối thành bụng trước bên [12] 6 1.
Định nghĩa đau Hiệp hội nghiên cứu đau quốc tế (International Association for the Study of Pain - IASP) đã định nghĩa: Đau là một cảm giác khó chịu và trải nghiệm cảm xúc xuất hiện cùng lúc với sự tổn thương thực sự hay tiềm tàng của các mô, hoặc được mô tả theo kiểu giống như thế. Như vậy đau vừa có tính thực thể, là một cảm giác báo hiệu một tổn thương thực thể tại chỗ, lại vừa mang tính chủ quan tâm lý, bao gồm cả những chứng đau tưởng tượng, đau không có căn nguyên hay gặp trên lâm sàng. Mục đích của cảm giác đau Đau là một cơ chế bảo vệ của cơ thể. Cảm giác đau xuất hiện tại một vị trí nào đó khi bị tổn thương, nó tạo nên đáp ứng nhằm loại trừ tác nhân gây đau.hầu như tất cả các bệnh đều có triệu chứng đau.
Khả năng chẩn đoán bệnh thường phụ thuộc vào kiến thức về đau của các thầy thuốc 1. Phân loại cảm giác đau, 1. Phân loại theo cơ chế Gồm: - Đau do cảm thụ thần kinh (nociceptive pain). - Đau do nguyên nhân thần kinh (neuropathic pain).
- Đau do căn nguyên tâm lý (psychogenic pain). * Đau do cảm thụ thần kinh (nociceptive pain). Đau do cảm thụ thần kinh là đau do thái quá về sự kích thích nhận cảm đau tổn thương mà bắt đầu từ các thụ cảm thể nhận cảm đau tổn thương rồi dẫn truyền hướng tâm về thần kinh trung ương; là cơ chế thường gặp nhất trong phần lớn các chứng đau cấp tính (chấn thương, nhiễm trùng, thoái hóa. ở giai đoạn mạn tính, người ta nhận thấy cơ chế này có trong những bệnh lý tổn thương dai dẳng, ví dụ như trong các bệnh lý khớp mạn, hay trong ung thư [41].
7 * Đau do nguyên nhân thần kinh (neuropathic pain). Một số trường hợp đau thần kinh do bị chèn ép thân, rễ hay đám rối thần kinh (như đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm, hội chứng ống, u bướu. Các trường hợp này thực chất là đau có nguyên nhân thực thể (đau tổn thương). Ngoài ra, trong lâm sàng còn thường gặp chứng đau hỗn hợp (mixed pain) bao gồm cả cơ chế đau nhận cảm và đau thần kinh [42].
* Đau do căn nguyên tâm lý (psychogenic pain). Đau do căn nguyên tâm lý có đặc điểm: là những cảm giác bản thể hay nội tạng, ám ảnh nhiều hơn là đau thực thụ, với sự mô tả phong phú, không rõ ràng hoặc luôn thay đổi và thường lan tỏa, triệu chứng học không điển hình. Thường gặp trong các trường hợp như: bệnh hysteri, bệnh rối loạn cảm xúc (trầm cảm), tự kỷ ám thị về bệnh tật, bệnh tâm thần phân liệt. Phân loại đau theo thời gian và tính chất: cấp tính và mãn tính * Đau cấp tính: Đau cấp tính (acute pain) là đau mới xuất hiện ngay sau phẫu thuật cho đến ngày thứ 7, có cường độ mạnh, có thể được coi là một dấu hiệu báo động hữu ích [42].
Đau cấp tính bao gồm: đau sau phẫu thuật, đau sau chấn thương, đau sau bỏng, đau sản khoa. * Đau mạn tính: Đau mạn tính (chronic pain) là chứng đau dai dẳng tái đi tái lại nhiều lần. Đau kéo dài hơn 3 tháng sau phẫu thuật. Nó làm cho cơ thể bị phá hủy về thể lực và cả về tâm lý và xã hội.
Đau mạn tính bao gồm: đau lưng và cổ, đau cơ, đau sẹo, đau mặt, đau khung chậu mạn tính, đau do nguyên nhân thần kinh 8 1. Phân loại đau dựa theo cảm nhận Đau nhói (pricking pain), đau rát (burning), đau nội tạng (aching-đau quằn quại) * Đau nhói: là cảm giác đau khi có kim châm vào da hoặc như bị dao cắt vào da. Cảm giác này xuất hiện khi một vùng da rộng bị kích thích tấy mạnh * Đau rát: là cảm giác đau khi bị da bị bỏng cháy, gây ra cảm giác đau đớn và hành hạ bệnh nhân. * Đau quằn quại - đau vật vã: đây không phải là cảm giác đau trên bề mặt cơ thể mà là cảm giác đau sâu bên trong cơ thể gây khó chịu cho bệnh nhân.
Một cảm giác đau nội tạng nhẹ nhưng tích hợp lại từ một vùng rộng cũng gây ra một cảm giác rất khó chịu cho bệnh nhân 1. Ngưỡng đau Cường độ kích thích nhỏ nhất có thể gây ra được cảm giác đau được gọi là ngưỡng đau. Cường độ kích thích mạnh sẽ gây ra cảm giác đau sau một thời gian ngắn (1 giây), nhưng cường độ kích thích nhẹ đòi hỏi thời gian dài hơn (vài giây) mới gây được cảm giác đau. Cường độ kích thích gây ra được cảm giác đau có thể đo được bằng nhiều cách nhưng phương pháp thường dung là dung kim châm vào da với áp lực nhất định (đo được áp suất) hoặc dung nhiệt tác động vào da (đo được nhiệt độ).
Kết quả các thí nghiệm cho thấy: Bằng cách dung cường độ kích thích khác nhau nhận thấy ở một người bình thường có thể có tới 22 mức nhận biết khác nhau về độ đau (đi từ mức không đau đến mức đau nhất) Ít có sự khác nhau giữa các cá thể về ngưỡng đau nhưng ngược lại phản ứng với cảm gíac đau lại rất khác nhau giữa các cá thể và các chủng tộc 9 1. Bộ phận nhận cảm giác đau 1.Vị trí Có nhiều trên bề mặt da và các mô như màng xương, thành động mạch, bề mặt khớp, lều não, khung vòm sọ. Hầu hết các mô của các tạng trong cơ thể có ít bộ phận nhận cảm cảm giác đau, tuy nhiên nếu những mô này có tổn thương rộng, các kích thích được tập hợp lại gây cảm giác đau nội tạng [42]. Các loại bộ phận nhận cảm giác đau: Bao gồm các loại thụ cảm thể nhận cảm đau sau: + Các thụ cảm thể nhận kích thích cơ học.
+ Các thụ cảm thể nhận kích thích hóa học.