Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Vô tuyến nhận thức 1.1 Sự cần thiết ra đời của vô tuyến nhận thức Như chúng ta đã biết, dải tần số của sóng vô tuyến được xem như là một tài nguyên có hạn và được quản lý bởi các tổ chức viễn thông của chính phủ. Ngày nay, với sự phát triển của lĩnh vực điện tử viễn thông và các ứng dụng không dây, thì phổ tần số càng trở nên chật hẹp và khan hiếm bởi sự gia tăng số lượng các kết nối trong hệ thống vô tuyến. Trong khi đó hiệu suất sử dụng tài nguyên phổ lại rất thấp, chỉ khoảng từ 15% đến 85% [1]. Gần đây các nhà khoa học định nghĩa những khoảng tần số không được sử dụng là khoảng trắng hay hố phổ.
Việc sử dụng các lỗ phổ này khó khăn ở chỗ là những hố phổ này không cố định mà thay đổi liên tục ứng với sự thay đổi của nhu cầu sử dụng của hệ thống sơ cấp.1: Minh họa hố phổ Do vậy nhu cầu bức thiết đặt ra đối với công nghệ viễn thông là cho ra đời một hệ thống vô tuyến có khả năng sử dụng những khoảng trắng trong dải tần số. Sự xuất hiện của vô tuyến nhận thức cho phép giải quyết được những khó khăn trong việc sử dụng hiệu quả tài nguyên tần số vô tuyến.2 Khái niệm vô tuyến nhận thức Trong những năm đầu thập kỷ 1990, Joseph Mitola là người đầu tiên giới thiệu ý tưởng vô tuyến định nghĩa bằng phần mềm. Đến năm 1998, trong một cuộc hội thảo tại Viện Công nghệ Hoàng gia ở Stockholm cũng chính ông đã đưa khái niệm 6 vô tuyến thông minh và được công bố năm 1999 [2]. Với định nghĩa ban đầu là một hệ thống vô tuyến thông minh, có khả năng nhận biết môi trường xung quanh và từ đó điều chỉnh các tham số truyền và phát của nó để tối ưu hệ thống.
Ngoài ra còn có định nghĩa của Giáo sư Simon Hayskin [3]: Vô tuyến nhận thức là một hệ thống truyền thông không dây thông minh có khả năng nhận biết được môi trường xung quanh và từ môi trường nó sẽ thích nghi với sự thay đổi của môi trường bằng cách thay đổi các thông số tương ứng (công suất truyền, tần số sóng mang, phương pháp điều chế) trong thời gian thực với hai vấn đề chính: Truyền thông với độ tin cậy cao và sử dụng hiệu quả phổ vô tuyến. Trong mạng vô tuyến nhận thức một phần của phổ tần được gán cho một hoặc nhiều users, được gọi là primary users (PUs). Những users khác, tạm gọi là secondary users (SUs), cũng có thể truy cập sử dụng được phổ tần này miễn là PUs tạm thời đang không sử dụng hoặc cũng có thể chia sẻ chung phổ tần với PUs miễn vẫn đảm bảo cho PUs hoạt động hiệu quả. Bằng cách làm này, phổ tần vô tuyến được tái sử dụng tại tất cả các thời điểm, từ đó hiệu quả sử dụng phổ tần có thể được cải thiện đáng kể.
Trong mạng vô tuyến nhận thức SUs phải capture được hoặc sensing được môi trường vô tuyến, SUs với khả năng như vậy được gọi là khả năng nhận thức (cognitive capabilities) hay gọi là CR users [4]. Tần số PU SU Thời gian Hình 1.2: Mô hình mạng vô tuyến nhận thức 1.3 Các tính năng trong mạng vô tuyến nhận thức 7 Mục đích của vô tuyến nhận thức là cho phép các thiết bị vô tuyến khác hoạt động trên các dải tần còn trống tạm thời mà không gây can nhiễu đến các hệ thống vô tuyến có quyền ưu tiên cao hơn hoạt động trên dải tần đó. Để cho phép tận dụng tối đa tài nguyên phổ tần, mạng vô tuyến nhận thức phải có những tính năng cơ bản sau: - Điều khiển công suất: Được sử dụng cho cả truy cập phổ cơ hội và chia sẻ phổ trong mạng vô tuyến nhận thức, hỗ trợ cho việc sắp đặt kênh cũng như hạn chế công suất nhiễu nhằm bảo vệ cho người dùng sơ cấp. - Cảm biến phổ (Spectrum Sensing): Là phát hiện các thành phần phổ chưa được sử dụng và chia sẻ nó mà không làm ảnh hưởng đến người sử dụng khác.
Đây cũng là một yêu cầu quan trọng của mạng vô tuyến nhận thức để cảm nhận được vùng phổ trống. Tìm kiếm những người dùng sơ cấp là phương pháp hiệu quả nhất để tìm ra vùng phổ trống. - Quản lý phổ: Bao gồm hai chức năng nhỏ là phân tích phổ và quyết định phổ. + Phân tích phổ: Tính toán ước lượng dung lượng phổ và chất lượng những hố phổ tốt nhất.
Tuy nhiên, ngoài dung lượng phổ ra còn cần phải lưu ý đến các yếu tố khác như thời gian trễ, tốc độ lỗi liên kết và thời gian chiếm giữ. + Quyết định phổ: Quyết định lựa chọn dải phổ phù hợp thỏa mãn các yêu cầu chất lượng dịch vụ của hệ thống thức cấp. - Linh động phổ: Vô tuyến nhận thức sử dụng công nghệ truy cập phổ tần động, đều đó có nghĩa là phải hoạt động trên băng tần tốt nhất, để tìm được các khoảng phổ trống tốt nhất mạng vô tuyến nhận thức cần phải liên tục thu thập thông tin các phổ trống. - Chia sẻ kênh phổ: Để thích ứng theo điều kiên cụ thể của môi trường vô tuyến, mà ở đó tồn tại nhiều loại hình dịch vụ vô tuyến cùng chiếm dụng.
khi CR hoạt động trong môi trường có nhiều CR khác thì yêu cầu nó phải chia sẻ các phổ trống với những người dùng khác. Khi các người dùng thứ cấp luôn cố gắng truy cập vào các dải phổ trống, do đó cần thiết phải điều phối các truy cập để tránh sự xung đột trong những phần phổ chồng lấn lên nhau.4 Mô hình truy cập phổ tần trong mạng vô tuyến nhận thức Với những khả năng nhận thức khác nhau, CR users có thể truy cập phổ tần số theo những cách khác nhau. Có 3 mô hình truy cập phổ tần đáng chú ý: Mô hình overlay, mô hình underlay và mô hình interweave. a) Mô hình overlay Mô hình overlay còn được gọi là mô hình dạng chồng, trong mô hình này hệ thống thứ cấp sẽ hoạt động xen kẽ với hệ thống sơ cấp, hệ thống thứ cấp sẽ thực hiện truyền phát dữ liệu trong những khe thời gian mà hệ thống sơ cấp không truyền.
Nút phát thứ cấp đóng vai trò như những bộ chuyển tiếp tín hiệu sơ cấp cho những nút sơ cấp. Nhờ sự cộng tác này nên hiệu năng của hệ thống sơ cấp được tăng lên, trong khi đó những nút phát thứ cấp biết được độ lợi kênh truyền, từ mã, và các bản tin của người dùng sơ cấp từ đó tìm thấy những cơ hội để truyền những tín hiệu của chúng đến những bộ thu thứ cấp mong muốn. Tuy nhiên, hiệu năng của mạng thứ cấp trong các phương pháp này thấp bởi vì sự chia sẻ công suất phát thứ cấp cho tín hiệu sơ cấp tại máy phát thứ cấp. Ngoài ra vấn đề cần quan tâm đối với mô hình này là tại dải tần mà hệ thống thứ cấp đang hoạt động, nếu hệ thống sơ cấp bắt đầu truyền dữ liệu trên chính dải tần này thì hệ thống thứ cấp phải ngừng ngay hoạt động truyền phát của nó.
Điều này cho thấy, nhược điểm của hệ thống này là khó đáp ứng thời gian thực, khi mà hiệu năng của hệ thống thứ cấp phụ thuộc vào xác suất lấy được tần số của hệ thống sơ cấp.3: Mô hình truy cập phổ tần dạng overlay 9 b) Mô hình interweave Mô hình vô tuyến nhận thức dạng đan xen là mô hình hoạt động dựa trên khái niệm hố phổ dưới dạng không gian và thời gian như mô tả trong Hình 1.4, nghĩa là hệ thống thứ cấp sẽ phát dữ liệu nếu hệ thống phát hiện ra lỗ phổ và lỗ phổ này đảm bảo chất lượng dịch vụ yêu cầu của hệ thống. Do đó, mô hình này đòi hỏi hệ thống thứ cấp phải biết được thông tin hoạt động truyền phát của hệ thống sơ cấp. Hay nói cách khác, hệ thống thứ cấp phải dừng truyền nếu hệ thống sơ cấp truyền phát trở lại hạn chế gây can nhiễu cho hệ thống sơ cấp.4: Mô hình truy cập phổ tần dạng interweave Nhược điểm của mô hình mạng loại này là khả năng đáp ứng thời gian thực do hoạt động của hệ thống thứ cấp hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống sơ cấp. Trong một số trường hợp, hệ thống thứ cấp không thể đảm bảo hoạt động khi mà hệ thống sơ cấp hoạt động liên tục.
c) Mô hình underlay Nhằm cải thiện những khuyết điểm của mô hình dạng xen kẽ thì một mô hình khác được sử dụng nhiều trong vô tuyến nhận thức có tên gọi là Underlay hay tạm dịch là mô hình dạng nền. Trong mô hình này, hệ thống thứ cấp tiến hành hoạt động truyền phát dữ liệu song song với hệ thống sơ cấp. Tuy nhiên, để đảm bảo cho chất lượng hoạt động của hệ thống sơ cấp thì can nhiễu của hệ thống thứ cấp gây ra ảnh hưởng đến máy thu hệ thống sơ cấp phải nhỏ hơn một giá trị cho trước, gọi là công suất nhiễu mà máy thu sơ cấp có thể cho phép. Vì thế, mặc dù giải quyết được vấn đề truyền thời gian thực nhưng công suất truyền của những bộ phát thứ cấp trong 10 mô hình này bị giới hạn dẫn đến hiệu năng của mạng thứ cấp cũng giảm theo và vùng phủ sóng thường bị giới hạn.5: Mô hình truy cập phổ tần dạng underlay 1.5 Cấu trúc mạng vô tuyến nhận thức Hình 1.6: Cấu trúc mạng vô tuyến nhận thức - Mạng sơ cấp (Primary network): + Người dùng sơ cấp (Primary user): Là người dùng có giấy phép để hoạt động trong một băng tần nhất định.
Truy nhập này chỉ được giám sát bởi trạm gốc chính và không bị ảnh hưởng bởi những hoạt động của bất kì người 11 dùng không được cấp phép khác. Để cùng tồn tại với các trạm gốc vô tuyến nhận thức và người dùng vô tuyến nhận thức, những người dùng chính này không cần bất cứ sự điều chỉnh hoặc chức năng cộng thêm nào. + Trạm gốc chính (Primary base-station): Trạm gốc chính (hay trạm gốc được cấp phép) là thành phần cơ sở hạ tầng mạng được cố định, được cấp phép sử dụng băng tần, như BTS trong mạng tổ ong. Về nguyên tắc, trạm gốc chính không có khả năng chia sẻ phổ với những người dùng vô tuyến nhận thức.
Tuy nhiên, trạm gốc chính này có thể yêu cầu để có được khả năng này. - Mạng nhận thức (mạng thứ cấp): Là mạng không được cấp phép để hoạt động trong một băng mong muốn. Do đó, nó chỉ được phép truy nhập phổ khi có cơ hội.