MỞ ĐẦU Hệ thống rơle bảo vệ đƣợc thiết kế để hoạt động với độ tin cậy cao, tuy nhiên do hệ thống gồm nhiều thiết bị hợp thành nên vẫn có những sự cố xảy ra và có thể dẫn tới những thiệt hại lớn cho hệ thống. Có thể thấy phƣơng thức bảo vệ của các thiết bị chính trong hệ thống đã đƣợc qui định khá rõ ràng; tuy nhiên phần đấu nối các thiết bị và mạch nhị thứ còn khác nhau giữa các trạm. Việc khác nhau của hệ thống nhị thứ là do quan điểm thiết kế của các hãng không giống nhau. Vấn đề cần đƣợc thảo luận là phƣơng thức bảo vệ và hệ thống mạch nhị thứ nào sẽ có độ tin cậy cao hơn và phù hợp về mặt kinh tế.
Xuất phát từ lý do này, luận văn đã đi sâu nghiên cứu cách thức đánh giá định lƣợng độ tin cậy của các sơ đồ phƣơng thức bảo vệ đƣờng dây, phƣơng pháp sử dụng là phƣơng pháp cây sự cố. Phạm vi nghiên cứu sẽ giới hạn đối với phƣơng thức bảo vệ đƣờng dây 220kV vì đây là phần tử phổ biến trên lƣới điện và mang tính chất quang trọng. Phần tính toán áp dụng kết quả nghiên cứu sẽ thực hiện đối với sơ đồ phƣơng thức bảo vệ của đƣờng dây 272 - Trạm 220kV Sơn Tây – Truyền tải điện Hòa Bình. Về mặt cấu trúc luận văn đƣợc chia ra thành 5 chƣơng Chƣơng I: Giới thiệu chung về cấu hình và các yêu cầu đối với hệ thống rơle bảo vệ; đồng thời giới thiệu các sơ đồ phƣơng thức chung bảo vệ đƣờng dây 220kV & 500kV và các hƣ hỏng thƣờng gặp với hệ thống rơle bảo vệ.
Trong chƣơng này cũng đặt ra mục tiêu nghiên cứu của luận văn. Chƣơng II: Giới thiệu các chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá độ tin cậy của hệ thống điều khiển bảo vệ và các giải pháp để nâng cao độ tin cậy của hệ thống rơle bảo vệ. Chƣơng III: Giới thiệu phƣơng pháp cây sự cố dùng để đánh giá mức độ không sẵn sàng của hệ thống rơle bảo vệ. Chƣơng IV: Áp dụng phƣơng pháp cây sự cố để đánh giá mức độ không sẵn sàng loại trừ sự cố trong vùng đối với một số sơ đồ bảo vệ đƣờng dây phổ biến với mức độ dự phòng tăng dần.
Phạm vi áp dụng là với sơ đồ bảo vệ đƣờng dây 272 – Trạm 220kV Sơn Tây – Truyền tải điện Hòa Bình. Phần mềm OpenFTA đƣợc sử dụng để xây dựng và đánh giá mức độ không sẵn sàng. Chƣơng V: Đánh giá chung và đƣa ra các hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai. 1 CHƢƠNG I :CẤU HÌNH CHUNG VÀ CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI HỆ THỐNG RƠLE BẢO VỆ 1.1 Các yêu cầu đối với hệ thống rơle bảo vệ Nhiệm vụ chính của thiết bị bảo vệ rơle là tự động cắt phần tử hƣ hỏng ra khỏi hệ thống điện, ghi nhận phát hiện ra tình trạng làm việc không bình thƣờng của các phần tử hƣ hỏng trong hệ thống điện.
Tùy vào mức độ tình trạng làm việc bất thƣờng mà rơle bảo vệ có thể chỉ cảnh báo tín hiệu hoặc tác động cắt máy cắt. Các yêu cầu chính đối với hệ thống rơle bảo vệ: a) Tính chọn lọc Tác động của bảo vệ đảm bảo chỉ cắt phần tử bị hƣ hỏng ra khỏi hệ thống điện đƣợc gọi là tác động chọn lọc. Khi có nguồn cung cấp dự trữ cho hộ tiêu thụ, tác động nhƣ vậy tạo khả năng cho hộ tiêu thụ tiếp tục đƣợc cung cấp điện. Yêu cầu tác động chọn lọc cũng không loại trừ khả năng bảo vệ tác động nhƣ là bảo vệ dự trữ trong trƣờng hợp hỏng hóc bảo vệ hoặc máy cắt của các phần tử lân cận.
Cần phân biệt hai khái niệm chọn lọc. + Chọn lọc tƣơng đối: Theo nguyên tắc tác động của mình, bảo vệ có thể làm việc nhƣ là bảo vệ dự trữ khi ngắn mạch phần tử lân cận. + Chọn lọc tuyệt đối: Bảo vệ chỉ làm việc trong trƣờng hợp ngắn mạch ở chính phần tử đƣợc bảo vệ. Càng cắt nhanh phần tử bị ngắn mạch sẽ càng hạn chế đƣợc mức độ phá hoại của phần tử ấy, càng giảm đƣợc thời gian tụt thấp điện áp ở các hộ tiêu thụ và càng có khả năng giữ ổn định của hệ thống điện.
Để giảm thời gian cắt ngắn mạch cần phải giảm thời gian tác động của thiết bị bảo vệ rơle. Tuy nhiên trong một số trƣờng hợp để thực hiện yêu cầu tác động nhanh thì không thể thỏa mãn yêu cầu chọn lọc. Hai yêu cầu này đôi khi mâu thuẫn nhau. 2 Bảo vệ rơle cần phải đủ độ nhạy đối với những hƣ hỏng và tình trạng làm việc không bình thƣờng có thể xuất hiện ở những phần tử đƣợc bảo vệ trong hệ thống điện.
Thƣờng độ nhạy đƣợc đặc trƣng bằng hệ số độ nhạy Kn. Đối với các bảo vệ làm việc theo các đại lƣợng tăng khi ngắn mạch, hệ số độ nhạy đƣợc xác định bằng tỷ số giữa đại lƣợng tác động tối thiểu (ví dụ: dòng ngắn mạch nhỏ nhất) khi ngắn mạch trực tiếp ở cuối vùng bảo vệ và đại lƣợng đặt (tức dòng khởi động). d) Đảm bảo độ tin cậy Bảo vệ phải luôn luôn sẵn sàng khởi động và tác động một cách chắc chắn trong tất cả các trƣờng hợp ngắn mạch trong vùng bảo vệ và các tình trạng làm việc không bình thƣờng đã định trƣớc. Mặt khác bảo vệ không đƣợc tác động khi ngắn mạch ngoài.
Nếu bảo vệ có nhiệm vụ dự trữ cho các bảo vệ sau nó thì khi ngắn mạch trong vùng dự trữ bảo vệ này phải khởi động nhƣng không đƣợc tác động khi bảo vệ chính đặt gần chỗ ngắn mạch hơn chƣa tác động. Để tăng tính đảm bảo của bảo vệ cần: + Dùng rơle có chất lƣợng cao. + Chọn sơ đồ bảo vệ rơle đơn giản nhất. + Các bộ phận phụ (cực nối, dây dẫn, rơle trung gian) dùng trong sơ đồ phải chắc chắn, tiếp xúc tốt.
+ Thƣờng xuyên kiểm tra sơ đồ bảo vệ. e) Tính kinh tế Các thiết bị bảo vệ đƣợc lắp đặt trong HTĐ không phải để làm việc thƣờng xuyên trong chế độ vận hành bình thƣờng, mà ở chế độ luôn luôn sẵn sàng chờ đón những b ất thƣờng và sự cố có thể xả y ra để có những tác độ ng chuẩn xác. Đối với các trang thiết bị điện cao áp và siêu cao áp, chi phí để mua sắm, lắp đặt thiết bị bảo vệ thƣờng chỉ chiếm một vài phần trăm giá trị của công trình. Vì vậy yêu cầu về kinh tế không đề ra, mà bốn yêu cầu kỹ thu ật trên đóng vai trò quyết định, vì nếu không thoả mãn đƣợc các yêu cầu này sẽ dẫn đến hậu quả tai hại cho hệ thống điện.
Đối với lƣới điện trung áp và hạ áp, số lƣợng các phần tử cần đƣợc bảo vệ rất lớn, và yêu cầu đối với thiết bị bảo vệ không cao bằng thiết bị bảo vệ ở các nhà 3 máy điện ho ặc lƣới truyền tải cao áp. Vì vậy cần phải cân nhắc tính kinh tế trong lựa chọn thiết bị bảo vệ sao cho có thể đảm bảo đƣợc các yêu cầu kỹ thuật và chi phí thấp nhất.2 Các qui định về cấu hình hệ thống rơle bảo vệ Hiện nay, hệ thống đƣờng dây và các máy biến áp truyền tải điện năng đóng một vai trò quan trọng trong việc đƣa điện năng sản xuất đƣợc đến hộ tiêu thụ. Số lƣợng đƣờng dây và các trạm biến áp truyền tải điện tăng lên không ngừng do phải đáp ứng nhu cầu tăng rất nhanh của phụ tải. Việc xây dựng thêm các đƣờng dây ở các cấp điện áp 500, 220, 110kV trong hệ thống truyền tải điện ngày càng nhiều chính vì vậy mà phƣơng thức sử dụng dùng để bảo vệ cho các tuyến đƣờng phần tử quan trọng trong hệ thống truyền tải và phân phối điện năng.
Bên cạnh các yêu cầu kỹ thuật, các yêu cầu về tính kinh tế ngày càng đƣợc quan tâm nhằm nâng cao độ tin cậy để bảo vệ đƣờng dây truyền tải điện tốt hơn và tối ƣu về mặt kinh tế. Việc phát hiện và loại trừ nhanh sự cố trên đƣờng dây giúp tăng khả năng cung cấp điện liên tục,tin cậy cho toàn hệ thống điện. Theo quy định mới của EVN ban hành năm 2016 về cấu hình hệ thống và quy cách kỹ thuật của rơle bảo vệ cho hệ thống đƣờng dây truyền tải điện 500kV; 220kV và 110kV nhƣ sau (trích lƣợc): Cấu hình hệ thống rơ le bảo vệ cho đƣờng dây 220 kV. Cấu hình rơ le bảo vệ a.
Đƣờng dây 220 kV đƣợc trang bị mỗi đầu các thiết bị rơ le bảo vệ đƣờng dây với cấu hình nhƣ sau: Thiết bị rơ le bảo vệ số 1: Đƣợc tích hợp các chức năng bảo vệ 87L, SOTF, 67/67N, 50/51, 50/51N, 85, FR, FL. Thiết bị rơ le bảo vệ số 2: Đƣợc tích hợp các chức năng bảo vệ 21/21N, 68 (B/T), SOTF, 67/67N, 50/51, 50/51N, 85, FR, FL. Các chức năng bảo vệ và tự động 25/79, 27/59 không phải dự phòng và đƣợc tích hợp vào một trong hai thiết bị rơ le bảo vệ trên hoặc sử dụng thiết bị bảo vệ rơle riêng. Thiết bị rơ le bảo vệ số 1 và số 2 phải lấy tín hiệu dòng điện từ các cuộn dòng (thứ cấp biến dòng điện) khác nhau và phải có mạch cắt độc lập với nhau.
Tín hiệu điện áp đƣợc lấy từ biến điện áp đƣờng dây. Các chức năng bảo vệ 87L, 21/21N, POTT, PUTT 79 và các mạch nhị thứ đi kèm phải đảm bảo khả năng tác động riêng rẽ từng pha để có thể thực hiện tự động đóng lại 1 pha và 3 pha trên đƣờng dây 220 kV. Cô lập thiết bị rơ le bảo vệ số 1 (hoặc số 2) không đƣợc ảnh hƣởng đến bất kỳ chức năng nào của thiết bị rơ le bảo vệ số 2 (hoặc số 1 tƣơng ứng). Phƣơng thức truyền tín hiệu a.
Chức năng rơle bảo vệ 87L của thiết bị rơ le bảo vệ số 1 đƣợc truyền tín hiệu giữa hai đầu đƣờng dây bằng một trong ba phƣơng thức sau: - Sử dụng sợi quang nối trực tiếp vào rơ le ở hai đầu đƣờng dây. - Kênh truyền dẫn quang. - Kênh thuê riêng. Chức năng bảo vệ sử dụng kênh truyền của thiết bị rơ le bảo vệ số 2 (POTT, PUTT.) đƣợc truyền tín hiệu giữa hai đầu đƣờng dây bằng một trong ba phƣơng thức sau: - Kênh truyền tải ba.
- Kênh truyền dẫn quang thiết lập bằng thiết bị truyền dẫn và sợi quang độc lập vật lý với kênh truyền dẫn quang dùng cho chức năng rơle bảo vệ 87L của thiết bị rơle bảo vệ số 1.