CHƯƠNG 1 TONG QUAN 1.1 CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC Móng công trình đã được xây dựng từ thời xa xưa. Đến tận giữa thế kỉ 19, hầu hết các móng đều làm bằng gạch đá xây. Các loại móng xây đã được sử dụng thích hợp với hầu hết các công trình trước khi phát triển những ngôi nhà cao tầng có cột chịu tải trọng lớn. Những ngôi nhà tải trọng lớn đòi hỏi móng phải có kích thước và nặng.
Đến thời đại bê tông cốt thép sau năm 1900 thì các loại móng gạch đá xây được thay thế bởi loại móng bê tông cốt thép. Hiện nay, móng cọc được sử dụng rộng rãi trong các ngành xây dựng dân dụng và công nghiệp, giao thông, thủy lợi. với rất nhiều chủng loại cọc khác nhau như cọc gỗ, cọc bê tông cốt thép đúc sẵn, cọc bê tông ly tâm ứng lực trước, cọc khoan nhủi,. Trên thế giới, móng cọc bê tông ứng lực trước đã được áp dụng từ hơn 60 năm về trước nhưng ở Việt Nam chỉ khoảng 20 năm gần đây nó mới được phát triển và áp dụng rộng rãi.
Các nhà khoa học Nga đã có công rất lớn trong việc phát triển loại móng mới này về lý thuyết cũng như về kỹ thuật thi công. Móng cọc bê tông ứng lực trước được phát triển gắn liền với tên tuổi các nhà khoa học Nga như K. Cọc khoan nhồi đường kính nhỏ đã được nghiên cứu phát triển cách đây trên 100 năm xuất phát từ nhu cầu cải tạo sửa chữa các công trình kiến trúc cổ đại tại Italia do kiến trúc sư P.Lizz phat minh và đưa vào ứng dụng. Với lịch sử phát triển 100 năm cọc khoan nhồi đường kính nhỏ đã sử dụng rộng rãi trên thế giới (tại Italia, Mỹ, Đức, Trung Quốc.) với các ứng dụng khác nhau như xây dựng các công trình chen thành phó, cải tạo sửa chữa, phục hồi các công trình kiến trúc văn hóa.
Ở Việt Nam vào đầu những năm 1990, cọc khoan nhồi được áp dụng cho công trình cầu Việt Trì (Phú Thọ). TONG QUAN VE KHU VUC NGHIEN CỨU 12.1 Vị trí địa lí Công trình trụ sở làm việc Viện Kiểm Sát nhân dân Tp. Bảo Lộc, tọa lạc tại số 28 Lý Tự Trọng, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng với diện tích 202 mổ.1 Vị trí khu vực nghiên cứu 1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội Dân số của Bảo Lộc chủ yếu là người Kinh với 153.045 hộ; có 745 hộ đồng bào dân tộc thiêu số, chiếm 2,33% dân số. Khác với Đà Lạt, Bảo Lộc được khai thác mạnh về nông nghiệp, công nghiệp.
Nhiều nông trang, đồn điền đã được các tập đoàn người Pháp lập nên từ những năm 1930 -1940 để trồng chè, cà phê,. Về sau, nhân dân phát triển trồng cây dâu tằm, cây ăn quả.3 Khí hậu Bảo Lộc nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do độ cao trên 800m và tác động của địa hình nên khí hậu Bảo Lộc có nhiều nét độc đáo với những đặc trưng chính như sau: Nhiệt độ trung bình cả năm 21-22 °C, nhiệt độ cao nhất trong năm 27,4 °C, nhiệt độ thấp nhất trong năm 16,6 °C. Số giờ nắng trung bình 1.680 giờ/năm, bình quân 4,6 giờ/ngày (tháng mùa mưa: 2-3 giờ/ngày, các tháng mùa khô: 6-7 giờ/ngày), mùa khô nắng nhiều nhưng nhiệt độ trung bình thấp tạo nên nét đặc trưng độc đáo của khí hậu Bảo Lộc. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm 2.513 mm, số ngày mưa trung bình cả năm 190 ngày, mưa nhiều và mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng 9.
Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao từ 80-90%. Gió: gió chủ đạo theo hai hướng chính: -Gió Đông Bắc thịnh hành từ tháng 1 đến tháng 4 -Gió Tây Nam thịnh hành từ tháng 6 đến tháng 9 Nắng trung bình, độ âm không khí cao, nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn tạo nên những nét đặc trưng riêng cho vùng đất Bảo Lộc. Với khí hậu nắng ít, mưa nhiều thì việc xây dựng nên tiến hành vào những tháng mùa khô để đảm bảo tiến độ và tiết kiệm chỉ phí.4 Mạng lưới thủy văn Hệ thống sông DaR”Nga: phân bố ở phía Đông thành phố Bảo Lộc, là ranh giới giữa thành phố và huyện Bảo Lâm, các phụ lưu lớn của sông DaR”Nga trong thành phố Bảo Lộc gồm có: suối DaSre Drong, suối DaMˆDrong, suối DaBrian. Các suối này có nước quanh năm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Hệ thống suối Đại Bình: phân bố chủ yếu ở phía Nam Quốc lộ 20, bắt nguồn từ dãy núi cao ở phía Nam và Tây Bảo Lộc. Các phụ lưu gồm: suối DaLab, suối Tân Hồ, suối Đại Bình có lượng nước phong phú, có thể sử dụng làm nguồn nước tưới 6n định cho thung lũng Đại Bình. Hệ thống suối ĐamB'ri: là vùng đầu nguồn của suối ĐamB ri, phân bố tập trung ở xã ĐamB'ri, phần lớn các nhánh suối chỉ có nước vào mùa mưa. Suối ĐamB'ri có nhiều ghềnh thác, trong đó có thác ĐamB'ri là cảnh quan có giá trị rất lớn về du lịch.5 Cơ sở hạ tầng - Giao thông và mối quan hệ liên vùng Ngang qua thành phố Bảo Lộc có 2 quốc lộ : Quốc lộ 20 theo hướng đông đi thành phó Đà Lạt dài 120km, trên đoạn quốc lộ này là nhánh các quốc lộ xương cá tiếp giáp : Tại thị trấn Di Linh- huyện Di Linh tiếp giáp Quốc lộ 28 theo 2 hướng: hướng Bắc đi tỉnh Đắk Nông, hướng Nam đi tỉnh Bình thuận.
Tại ngã Ba Liên Khương- huyện Đức Trọng tiếp giáp quốc lộ 27 theo hướng Bắc đi tỉnh Đắk Lắk. Tại ngã Ba Phi Nôm tiếp giáp quốc lộ 27 theo hướng Đông đi Ninh thuận. Quốc lộ 55 từ ngã ba Lộc Sơn (Ngã ba Lê Minh Sanh) đi thủy điện Hàm Thuận- Đạ Mi. Quốc lộ 55 sẽ cùng với quốc lộ 28 tạo thành mạng lưới giao thông đường bộ liên hoàn ở cửa ngõ phía Tây Bắc Bình Thuận, nối thông Nam Tây Nguyên (thành phố Bảo Lộc) với duyên hải Đông Nam Bộ, tạo động lực mới phát triển kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng không chỉ cho Bình Thuận mà cả Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ với tốc độ nhanh.
Có khả năng mở thêm các tour du lịch mới từ Vũng Tàu - Suối nước nóng Bình Châu -La Gi - hồ Biển Lạc - hồ Đa My - Đà Lạt và ngược lại. Mạng lưới giao thông nội vùng được đầu tư hoàn chỉnh đến tận trung tâm các xã phường Mạng lưới giao thông đường bộ của thành phố Bảo Lộc hiện tại và tương lai đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, tạo ra mối quan hệ kinh tế liên vùng rộng lớn. Để thành phố Bảo Lộc trở thành vùng kinh tế trọng điểm phía nam tỉnh Lâm Đồng. - Điện nước và bưu chính viễn thông Điện sử dụng hệ thống điện lưới quốc gia được quản lý sử dụng bởi Công ty Điện lực Bảo Lộc.
Nước sạch được cung cấp chính bởi nhà máy nước thành phố Bảo Lộc cung cấp cho khu vực trung tâm thành phố, vùng phụ cận. Nước giếng khoan và giếng đào tại các xã phường vùng ven. Mạng lưới bưu chính viễn thông đáp ứng nhu cầu cho mọi đối tượng sử dụng trong và ngoài nước. - Hạ tầng khác Về giáo dục: Trên địa bàn huyện có trường cao đăng kỹ thuật Nông nghiệp, các trung tâm đào tạo nghề, trung tâm học tập cộng đồng.
Hệ thống trường phô thông các cấp đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân trong dia ban. Về y tế: có Bệnh viện Đa Khoa II Lâm Đồng, trung tâm y tế và các cơ sở khám chữa bệnh ngoài công lập đáp ứng nhu cầu khám và điều trị bệnh cho cả khu vực phía Nam Lâm Đồng.6 Đặc điểm địa chất Theo Địa Chí Lâm Đồng cấu trúc địa chất tỉnh Lâm Đồng bao gồm các đá trầm tích, phun trào, xâm nhập có tuôi từ Jura giữa đến Đệ Tứ. Các trầm tích, phun trào được phân chia ra thành phân vị địa tầng có tuổi và thành phần đá khác nhau. Các đá xâm nhập trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng thuộc 4 phức hệ: Định Quán, đèo Cả, Cà Ná, Cù Mông.
Địa tầng a) Trầm tích phun trào = Giới Mesozoi Các trằm tích phun trào giới Mesozoi được phân ra 4 hệ tang: La Nga, đèo Bảo Lộc, Da Krium, Don Duong. Hé Jura, thong trung, hé tang La Nga Trén dién tich tinh Lam Đồng, trầm tích của hệ tầng La Ngà lộ ra khá rộng rãi ở Đạ Téh, Cát Tiên, Lộc Thành, lưu vực sông Đa Queyon (Trà Năng), Phi Liêng, thượng nguồn Krông Knô. Tổng chiều dày của hệ tầng là 1. Trên diện tích tỉnh Lâm Đồng hệ tầng La Ngà nằm không chỉnh hợp dưới hệ tầng đèo Bảo Lộc, dưới hệ tầng Đa Krium và dưới hệ tầng Đơn Dương.
Hệ Jura, thống thượng, hệ tầng đèo Bảo Lộc Các đá của hệ tầng đèo Bảo Lộc phân bố ở đông nam đèo Bảo Lộc, nam và đông nam Di Linh, đông bắc Gia Bắc, tây nam núi Tà Nung. Thành phần thạch học của hệ tầng gồm: andesit, andesit porphyrit, andesitodacit, đacit, ryodacit,. Chiều dày chung của hệ tầng 400 — 500m. Hệ Creta, thống thượng, hệ tang Da Krium Các đá của hệ tầng này lộ ra dọc suối Đa Krium, dọc sông Đa Nhim từ cửa sông đến Liên Khương, đông bắc Lâm Hà với thế nằm của đá rất thoải, góc đốc 5-10.
Chiều dày của hệ tầng khoảng 120m. Tuổi của hệ tầng tạm xếp vào Creta muộn trên cơ sở các đá của hệ tầng Đa Krium nam không chỉnh hợp góc lên đá hệ tầng La Ngà và bị đá phun trào axit của hệ Đơn Dương phủ lên trên. Trong trầm tích của hệ tầng có chứa hóa thạch động vật, thực vật tuổi Jura muộn - Creta hoặc Creta - Paleogen. Hệ Creta, thống thượng, hệ tằng Đơn Dương Các đá của hệ tầng Đơn Dương lộ ra trên một diện rộng 20km” và kéo dài thành một dải trên 70km từ Lâm Hà qua Prenn, Xuân Thọ đến thượng nguồn Đa Nhim.
Ngoài ra, đá của hệ tầng còn gặp ở Trà Năng, núi Queyon, Tà Đùng với diện tích 10 - 30km”. Hệ tầng được cấu tạo bởi các đá dacit, ryodacit, felcit, ryolit, andecitodacit va các vụn kết núi lửa, đôi nơi có các lớp kẹt mỏng andesit. Chiều dày chung của hệ tang 1. - Giới Kainozoi Các đá trầm tích bở rời và phun trào bazan phát triển rộng rãi trên diện tích tỉnh Lâm Đồng.
Chúng được phân chia thành các phân vị địa tầng có tuổi từ Miocen muộn đến Holocen. Trầm tích tuổi Đệ Tứ thường bở rời, phát triển dọc các sông suối. Các đá phun trào bazan thường tạo nên các lớp phủ rộng lớn.