CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. TỔNG QUAN VỀ 4G LTE 1. Giới thiệu về 4G LTE 4G LTE là một giai đoạn trong quá trình chuyển tiếp từ 3G lên 4G, tốc độ truyền tải nhanh gấp 7 lần so với 3G. 4G LTE đang là một chuẩn truyền thông tốc độ cao dành cho các thiết bị đầu cuối và các thiết bị di động.
4G LTE hiện đang được nhiều người coi là công nghệ mạng di động thế hệ thứ tư, nhưng thực chất tốc độ của 4G LTE thấp hơn so với chuẩn 4G [1, 11, 9]. LTE được quy định trong 3GPP Rel 8 là phiên bản đầu tiên và là nền móng cho những bổ sung cải tiến về sau [1, 11]. Với phiên bản 3GPP Rel 10, đưa ra các ý tưởng mới để đảm bảo các giá trị quy định như một phần của kế hoạch LTE-Advanced phù hợp với yêu cầu của IMT-Advanced cho mạng vô tuyến 4G. Hệ thống 3GPP LTE, là bước tiếp theo cần hướng tới của hệ thống mạng không dây 3G dựa trên công nghệ di động GSM/UMTS, và là một trong những công nghệ tiềm năng nhất cho truyền thông 4G.
Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) đã định nghĩa truyền thông di động thế hệ thứ 4 là IMT Advanced. Các giai đoạn phát triển của công nghệ viễn thông di động Các thế hệ công nghệ viễn thông di động được phát triển qua các cột mốc như sau : Công nghệ di động thế hệ thứ nhất (1G) ra đời vào khoảng thời gian năm 1980 dựa trên công nghệ FDMA (đa truy cập phân chia theo tần số). 11 Công nghệ di động thế hệ thứ 2 (2G) ra đời vào khoảng thời gian năm 1990 dựa trên công nghệ TDMA (đa truy cập phân chia theo thời gian) Công nghệ di động thế hệ thứ 3 (3G) ra đời vào khoảng thời gian năm 2000 dựa trên công nghệ WCDMA (đa truy cập phân chia theo mã) Công nghệ di động thế hệ thứ 4 (4G) ra đời trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến nay, đã qua giai đoạn triển khai thử nghiệm ban đầu và hiện nay đang triển khai tại một số nước, dựa trên công nghệ OFDM, SDMA - tức là công nghệ LTE – LTE ADVANCE. LTE là từ viết tắt của Long Term Evolution, mô tả công việc chuẩn hóa của 3GPP để xác định phương thức truy nhập vô tuyến tốc độ cao mới cho hệ thống truyền thông di động.
LTE là bước tiếp theo dẫn đến hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 4 hay còn gọi là 4G. Hệ thống này được kỳ vọng có những tiến bộ vượt bậc về công nghệ cũng như những tính năng so với thế hệ 3G trước đó [11, 9]. Tại sao phải cần thế hệ mạng tiếp theo Số lượng người dùng ngày càng lớn mạnh, nhu cầu sử dụng Internet bằng di động ngày càng tăng. Người dùng cần một mạng di động có tốc độ truyền tải dữ liệu nhanh và có chất lượng tốt hơn.
Nhu cầu giá thành giảm, nhưng chất lượng tốt hơn. Cải thiện các nhược điểm của 3G và đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Các đặc tính cơ bản của LTE LTE cung cấp tốc độ cực đại DL (Down link) đường xuống là 300 Mbps, tốc độ cực đại UL (Up link) đường lên là 75 Mbps [11, 12]. Độ trễ cho phép 12 truyền bé hơn 5ms trong mạng truy nhập vô tuyến.
Hoạt động ở băng tần 700 MHz - 2,6 GHz. LTE hỗ trợ băng thông sóng mang có thể mở rộng, từ 1,4 MHz đến 20 MHz và hỗ trợ cả ghép song công phân chia theo tần số (FDD) và ghép song công phân chia theo thời gian (TDD). Kiến trúc mạng dựa trên IP, được gọi là lõi gói tiến hóa (EPC) được thiết kế để thay thế mạng lõi GPRS , hỗ trợ chuyển giao liên tục cho cả thoại và dữ liệu cho các trạm di động với công nghệ mạng cũ hơn như GSM, UMTS và CDMA2000. CÁC PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN VIDEO Có 2 phương pháp truyền video là: streaming và downloading Stream video: là một kỹ thuật được sử dụng khá phổ biến trong các ứng dụng mạng.
Nó được dùng để truy cập và xem video từ xa thông qua các máy chủ theo mô hình client/server, ứng dụng vào các hệ thống đào tạo từ xa, giám sát từ xa, điều khiển từ xa, hội nghị trực tuyến … Stream video sử dụng cách thức phát lại các đoạn video được lưu trữ trên các máy chủ đến người dùng đầu cuối mà không phải tải video về máy tính. Stream video là quá trình chia nhỏ các file video thành các frame, rồi lần lượt gửi từng frame đó đến bộ đệm của máy tính người xem và hiển thị nội dung frame đó. Nó sử dụng các giao thức RTSP, RTP, RTCP [12]. Downloading: có nghĩa là khi tải video về thì toàn bộ video đó sẽ được lưu trên máy tính, và có thể mở và xem ngay sau khi tải về.
Phương thức này có ưu điểm là có thể truy xuất nhanh đến một khoảng thời gian khác nhau của video, nhưng lại có một nhược điểm lớn đó là phải chờ video được tải về toàn bộ mới có thể xem được. Khi video có kích thước lớn thì phải chờ một thời gian rất lâu, dẫn đến người xem sẽ có cảm giác khó chịu khi phải chờ đợi. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ Có rất nhiều phương pháp và bài toán để đánh giá được chất lượng dịch vụ truyền video trên mạng không dây di động, trong luận văn sẽ nêu ra 2 phương pháp chính. Phương pháp chủ quan Phương pháp này mang lại hiệu quả cao, độ tin cậy và chính xác cao.
Nhưng ngược lại thì lại tốn kém chi phí, nhân lực và thời gian, vì phải dùng chính con người để kiểm nghiệm 1. Phương pháp khách quan Do tâm lý đánh giá của người tham gia đánh giá rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng chủ quan của video, cho nên rất khó khăn để nâng cao được hiệu quả đánh giá chất lượng được. Chính vì vậy phải cần thêm các công cụ máy móc để đánh giá được chất lượng thông qua các tính năng vật lý của tín hiệu. YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TRUYỀN VIDEO TRÊN MẠNG 4G Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng video, từ các yếu tố truyền dẫn trên đường truyền như mất gói tin, suy hao đường truyền, lỗi bit, giới hạn băng thông, hay nghẽn mạng.
Chất lượng dịch vụ - QoS QoS hiện nay được sử dụng trong các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng dịch vụ viễn thông, bao gồm cả chất lượng dịch vụ di động trong đó có 4G. Chất lượng dịch vụ QoS chính là sự đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ viễn thông. Người dùng đánh giá chất lượng dịch vụ bằng cách phản hồi khả năng đáp ứng của dịch vụ dựa trên các yêu cầu của mình đề ra đã được đáp ứng như thế nào. Ví dụ : khi xem một đoạn video hoặc một bài nhạc trên mạng 14 internet, người dùng sẽ đánh giá mức độ tải nhanh hay chậm.
Từ đó, người dùng sẽ đánh giá được mức độ cung cấp dịch vụ của nhà mạng là tốt hay không tốt. Dịch vụ xem video trực tuyến trên mạng viễn thông di động hiện nay là một dịch vụ giá trị gia tăng hoạt động trên nền tảng viễn thông di động. Chất lượng dịch vụ đối với loại hình này phụ thuộc rất lớn vào hạ tầng mạng truyền dẫn chứ không phải phụ thuộc vào đơn vị cung cấp nội dung. Vào mỗi thời điểm khác nhau thì chất lượng dịch vụ cũng sẽ khác nhau.
Ví dụ, vào giờ cao điểm dịch vụ có thể không truy cập được, tốc độ có thể bị chậm, dẫn đến chất lượng dịch vụ sẽ không tốt. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ bao gồm [3, 12] : Mất gói: mất gói tin trên mạng có thể được gây ra bởi nhiều nguyên nhân như nghẽn mạng, mất kiên kết, không đủ băng thông hay lỗi đường truyền … Suy giảm chất lượng video gây ra bởi hiện tưởng mất gói, tùy thuộc vào giao thức để truyền tải video Giao thức TCP: khi một gói tin bị mất thì sẽ nhận được yêu cầu truyền lại gói tin đã bị mất, điều này làm thiếu hụt bộ đệm tại thiết bị đầu cuối, dẫn đến hiện tượng hình ảnh bị dừng lại. Giao thức UDP: khi xảy ra hiện tượng mất gói tin thì sẽ dẫn đến một phần của video sẽ bị mất theo, do giao thức UDP không yêu cầu truyền lại gói tin bị mất. Tín hiệu hoặc các gói thông tin bị mất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín hiệu, thông tin khi được phát đến người sử dụng.
Mất gói không chỉ giới hạn ở các lỗi liên quan đến lỗi bit hoặc rớt gói dữ liệu trong quá trình truyền tải, mà nó còn bao gồm cả những việc nén tín hiệu để có thể truyền được hiệu quả. Băng thông: sự giới hạn về băng thông thường xảy ra ở lớp truy nhập. Nếu băng thông được cung cấp không đủ để truyền 1 video trực tuyến thì sẽ xảy ra mất gói, dẫn đến việc suy giảm chất lượng video. Băng thông bị hạn 15 chế cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng truyền gói tin.
Khi băng thông hẹp dẽ dẫn đến nhiều gói tin bị loại bỏ dẫn đến sự suy giảm chất lượng. Độ trễ: khi người dùng yêu cầu một video mà tín hiệu hình ảnh và âm thanh được truyền đi đến người sử dụng mất khá nhiều thời gian, sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến độ hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ. Chất lượng trải nghiệm - QoE Trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ truyền video thì để dễ dàng đánh giá nhất đó là bằng cách sử dụng bằng mắt thường, khi xuất hiện các khối nhòe, màu sắc thay đổi, tạp âm, giật hình, hình ảnh mờ [3, 12]. Hình ảnh mờ: là những hình ảnh với độ sắc nét thấp, nhìn không rõ vật thể.
Hiêu ứng này sinh ra do sự suy hao tại tần số cao, hoặc do nội dung với các hình ảnh động được truyền đi với băng thông hạn chế. Tốc độ bit quá thấp, không đảm bảo để mã hóa tốt các nội dung với hình ảnh động. Thay đổi màu sắc: là cường độ màu sắc vật thể không rõ ràng, không chính xác. Hiệu ứng này do quá trình xử lý mã hóa gây ra.
Hình khối: là một hiện tượng xuất hiện các khối nhỏ trên hình ảnh. Do quá trình xử lý video không đủ dữ liệu cho nên các chi tiết hình ảnh không được hiển thị đầy đủ và chính xác. Đóng băng hình ảnh: là hiện tượng hình ảnh bị giữ nguyên trong một khoảng thời gian, và sau đó lại hiển thị lại ảnh mới.