CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI VÀ NHÀ MÁY ĐIỆN MẶT TRỜI FUJIWARA Nguồn điện mặt trời 1. Xu hướng phát triển nguồn điện mặt trời Trong một thập kỷ qua, năng lượng mặt trời đã phát triển không ngừng, với cả hai loại công nghệ chính, đó là công nghệ quang điện SPV và công nghệ hội tụ năng lượng mặt trời CSP (concentrated solar power) hay còn gọi là Công nghệ nhiệt năng mặt trời STE (Solar thermal energy). Trong đó, điện mặt trời theo công nghệ quang điện SPV được nhiều nước đầu tư phát triển từ giai đoạn đầu tiên của ngành điện mặt trời.
Với mục tiêu hạ giá thành cho các nhà máy điện mặt trời theo công nghệ SPV, các nhà công nghệ đã tiến hành các nghiên cứu song song theo hai hướng: - Nghiên cứu tìm nguyên liệu mới hoặc cải tiến kỹ thuật chế tạo các tế bào quang điện. Từ 4 ÷ 5 năm trở lại đây đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong chế tạo các tế bào quang điện bằng cách thay đổi vật liệu và cách bố trí tối ưu các tế bào đó. - Nghiên cứu để tránh chiếm dụng quá nhiều đất bằng phẳng. Để thực hiện điều này, nhiều nước và đi đầu là Australia đã xây dựng kiểu nhà máy, trong đó tất cả pin mặt trời hay tế bào quang điện với nhiệm vụ biến đổi các tia sáng mặt trời trực tiếp thành điện năng đều đặt nổi trên mặt nước.
Như vậy, nhà máy điện mặt trời theo công nghệ quang năng SPV có thể phân thành 2 kiểu ứng dụng công nghệ: pin đặt trên mặt đất hay pin cho nổi trên mặt nước. Các xu hướng nói trên chính là những giải pháp góp phần để ngành điện mặt trời theo công nghệ quang điện SPV không bị tụt hậu trên thị trường so với công nghệ điện khác như nhiệt điện hay thủy điện … hay so cả với cả 5 công nghệ điện mặt trời dùng công nghệ hội tụ CSP hay STE (Solar thermal energy). Với sự phát triển tiến bộ không ngừng về công nghệ, mức chi phí đầu tư ban đầu ngày càng giảm, chi phí vận hành và bảo dưỡng nhỏ nên giá thành sản xuất điện từ năng lượng mặt trời đang dần cạnh tranh với các nguồn điện từ nhiên liệu hóa thạch. Hiện nay, điện từ nguồn năng lượng mặt trời đang phát triển mạnh với tốc độ rất cao.
Năm 2015, đã có 227 GW điện từ mặt trời được kết nối với hệ thống điện, tăng 50.000 MW so với cuối năm 2014 (177.000 MW) và tăng 44,5 lần về công suất lắp đặt trong 10 năm qua (2005- 2015). Chỉ trong 5 năm trở lại đây các cường quốc điện mặt trời có tên trong các vị trí từ 1 đến 5 thay đổi liên tục giữa Đức, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ. Xu hướng lắp đặt điện mặt trời trên thế giới giai đoạn 2005-2015 Tỷ trọng công suất lắp đặt điện mặt trời toàn cầu năm 2015, tỷ trọng của 15 quốc gia hàng đầu và phần còn lại của thế giới 6 Giá tấm pin mặt trời đã giảm mạnh từ 3,5 ÷ 4 EUR/Wp năm 2008 xuống còn chỉ 0,41 ÷ 0,57 EUR/Wp vào tháng 12 năm 2016 đã thúc đẩy phát triển mạnh mẽ điện mặt trời ở nhiều nước đang phát triển như Thái Lan, Trung Quốc và kể cả Việt Nam. Hình dưới đây cho thấy xu hướng giá tấm pin mặt trời tại thời điểm từ 01/12/2016 theo các vùng lãnh thổ và các nước.
Chỉ số giá thị trường thế giới các tấm PMT (PV Crystalline Module) Xu hướng giá tháng 12/2016 Chỉ số giá thị trường Chỉ số giá thị từ 01/2016 trường từ 11/2016 TT Nước sản xuất €/Wp Xu Xu Giá trị Giá trị hướng hướng 1 Germany, Europe 0,49 - 16,9% - 2,0% 2 Japan, Korea 0,57 - 13,6% - 1,7% 3 China 0,50 - 10,7% 2,0% Southeast Asia, 4 0,41 - 14,6% - 2,4% Taiwan Hiện trạng phát triển điện mặt trời ở Việt Nam, đến 12/2015 tổng công suất lắp đặt điện mặt trời chỉ khoảng 6MW, chủ yếu là quy mô nhỏ cấp điện tại chỗ (vùng ngoài lưới cho các hộ gia đình và một số dự án trình diễn nối lưới điện hạ thế – lắp đặt trên các tòa nhà, công sở). Tuy nhiên, trong vòng 1 năm trở lại đây nhiều chủ đầu tư trong và ngoài nước đang xúc tiến và tìm kiếm cơ hội đầu tư vào dự án điện mặt trời nối lưới quy mô lớn trong phạm vi cả nước. Tiềm năng nguồn năng lượng mặt trời tại Bình Định Vùng ven biển tỉnh Bình Định có nền nhiệt độ không khí khá cao và có xu hướng tăng dần từ bắc xuống nam. Bình Định có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm của khá cao, dao động từ 22oC-31oC.
Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 27oC. Nhiệt độ cao nhất trong năm là vào giữa tháng 6, tháng 7 và tháng 8. Nhiệt độ không khí trung bình nhỏ nhất là 22,2oC. 7 Bức xạ mặt trời ở khu vực ven biển, tổng lượng bức xạ mặt trời tới mặt đất là 1.911 kWh/m2/năm, đạt cực đại vào tháng 4, tháng 5 và tháng 6 (~ 200 kWh/m2/tháng), cực tiểu vào tháng 11-12 (~100 kWh/m2/tháng ÷ 110 kWh/m2/tháng).
Ở đây nắng nhiều. Tổng giờ nắng bình quân trong năm là 2. Phân vùng bức xạ mặt trời của Việt Nam và tỉnh Bình Định Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12, còn mùa ít mưa là từ tháng 1 đến tháng 8. Tổng lượng mưa trung bình khu vực là 1.
Lượng mưa trong mùa mưa chiếm khoảng 70% ÷ 75 % tổng lượng mưa năm. Trong đó, lượng mưa trong hai tháng giữa mùa mưa tháng 10 và tháng 11 chiếm khoảng 45% ÷ 50% tổng lượng mưa năm, lượng mưa trong mùa khô chỉ chiếm 2,5% ÷ 5%. Vì vậy, úng lụt cũng thường xảy ra vào tháng 10 và tháng 11. Vào tháng 5, 6 thường có mưa tiểu mãn có thể đạt trên 100 mm, gây ra lũ tiểu mãn.
Lượng mưa tháng có thể chênh nhau trong khoảng 450mm ÷ 600 mm. Lượng mưa năm trung bình ở thượng nguồn sông Kôn, sông An Lão có thể đạt 2.800mm, ở vùng ven biển đạt 1. Lượng mưa giữa các vùng trong tỉnh có sự chênh lệch khá lớn. Đối với vùng Quy Nhơn, thời gian mưa kéo dài lâu nhất là 5 ngày và thời gian không mưa là 11 ngày.
Bức xạ mặt trời khu vực điện mặt trời Tổng xạ Tán xạ Nhiệt độ Tốc độ gió ở độ cao 10m TT (kWh/m2) (kWh/m2) (oC) (m/s) T1 120 65 22,2 1,3 T2 140 69 23,4 1,4 T3 179 79 25,9 1,2 T4 181 85 28,6 0,9 T5 204 81 30,0 1,0 T6 193 71 30,9 1,1 T7 206 71 30,6 1,1 T8 190 69 29,9 1,2 T9 157 77 28,2 0,9 T10 130 74 26,4 1,2 T11 110 57 24,9 0,7 T12 100 63 23,1 0,6 Tổng 1.00 Bức xạ mặt trời hàng ngày 6.00 - Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Bức xạ mặt trời trung bình hàng ngày khu vực dự án (kWh/m2/ngày) 9 Hiện trạng hệ thống điện khu vực 1. Nguồn điện Trên địa bàn tỉnh Bình Định hiện có 4 nhà máy thủy điện (NMTĐ) lớn, phát điện lên lưới điện cao áp, tập trung ở hai huyện Tây Sơn và Vĩnh Thạnh: - Nhà máy thuỷ điện Vĩnh Sơn công suất (2x33) MW, phát lên hệ thống 110kV thông qua các đường dây 110kV Vĩnh Sơn – Hoài Nhơn–Tam Quan – Đức Phổ và Vĩnh Sơn – Vĩnh Sơn 5– Trà Xom – Đồn Phó. - Nhà máy thủy điện An Khê công suất (2x80) MW đưa vào hoạt động năm 2011, phát lên hệ thống 220kV thông qua đường dây 220kV An Khê - Quy Nhơn. - Nhà máy thuỷ điện Vĩnh Sơn 5 công suất (2x14) MW đưa vào vận hành cuối năm 2013 phát lên hệ thống 110kV thông qua đường dây 110kV Vĩnh Sơn 5 – Phù Mỹ, Vĩnh Sơn 5 – Trà Xom – Đồn Phó và Vĩnh Sơn 5 – Vĩnh Sơn.
- Nhà máy thuỷ điện Trà Xom công suất (2x10) MW đưa vào vận hành đầu năm 2015, phát lên hệ thống 110kV thông qua đường dây 110kV Trà Xom – Vĩnh Sơn 5 và Trà Xom – Đồn Phó – Nhơn Tân – Quy Nhơn. - Ngoài ra, còn 3 NMTĐ nhỏ phát lên lưới điện trung áp khu vực như: NMTĐ Định Bình(3x3,3MW) huyện Vĩnh Thạnh phát vào lưới điện trung áp sau trạm 110kV Đồn Phó, Tiên Thuận (2x4,75MW) và Văn Phong (3x2MW) ở huyện Tây Sơn. Lưới điện 110kV Trạm biến áp 110kV Tổng số TBA 110kV trên địa bàn tỉnh có 13 trạm/19 máy/ 565MVA. Hầu hết các trạm 110kV đều mang tải đáp ứng đủ nhu cầu phụ tải, riêng máy T1 trạm 110kV Nhơn Hội vận hành non tải do nhu cầu phụ tải Khu kinh tế Nhơn Hội phát triển thấp hơn dự kiến.
Thông số, tình hình vận hành các trạm biến áp 110kV, năm 2018 Sđm STT TBA MBA Điện áp (kV) Pmax (MW) (MVA) T1 40 110/22/16 35,8 1 Quy Nhơn 2 T2 40 110/22 31,5 T3 25 115/35/22 17,3 2 Phú Tài (Quy Nhơn) T4 40 115/35/10 32,3 3 Long Mỹ T1 25 110/22 20,0 T1 25 115/35/22 20,1 4 An Nhơn T2 25 110/22 18,3 5 Đồn Phó T1 25 115/35/22 21,4 T1 25 115/24 24,9 6 Phù Cát T2 25 115/38,5/23 15,3 7 Phù Mỹ T1 25 115/35/22 18,3 T1 40 110/22 23,0 8 Mỹ Thành T2 40 110/22 16,0 T1 25 115/35/22 18,6 9 Hoài Nhơn T2 25 110/22 30,2 10 Tam Quan T1 25 110/22 30,4 11 Nhơn Hội T1 40 110/22 16,2 12 Phước Sơn T1 25 110/22 20,3 13 Nhơn Tân T1 25 115/22 19,8 Đường dây 110kV Phần lớn vận hành an toàn, đảm bảo cung cấp điện ổn định. Lưới điện 110kV của tỉnh cơ bản đã đảm bảo tiêu chí N-1. Các trạm 110kV đều có 2 nguồn cấp hoặc 2 đường dây đến.