Chương 1: Lý thuyết tổng quan về nguồn vốn tự có của ngân hàng thương mại và hiệp ước vốn Basel. Chương 2: Thực trạng vốn tự có của các NHTM Việt Nam trong các qui định liên quan đến hiệp ước Basel Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm đảm bảo nguồn vốn tự có của các NHTM Việt Nam theo hiệp ước Basel TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1 : LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN TỰ CÓ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HIỆP ƢỚC VỐN BASEL 1. Tổng quan lý thuyết về nguồn vốn tự có của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm: Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại.
Về mặt quản lý, theo các cơ quan quản lý ngân hàng ( NHNN) , vốn tự có của ngân hàng được hợp thành hai loại : Vốn tự có cấp 1 và vốn tự có cấp 2. Ta có cách tính toán vốn tự có như sau : Vốn tự có = Vốn cấp 1+ Vốn cấp 2 – Các khoản giảm trừ khỏi vốn tự có Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 về Quy định các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng đã quy định rõ các khoản mục được hạch toán vào Vốn cấp 1 và Vốn cấp 2. Đặc điểm: Vốn tự có là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong qúa trình hoạt động của ngân hàng. Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh (thông thường từ 8% đến 10%), tuy nhiên nó lại giữ một vai trò rất quan trọng vì nó là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác của ngân hàng đồng thời tạo nên uy tín ban đầu của ngân hàng.
Vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, cụ thể vốn tự có là cơ sở để xác định giới hạn huy động vốn của ngân hàng. Nó còn là yếu tố để các cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỉ lệ an toàn trong kinh doanh ngân hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Theo luật các tổ chức tín dụng của VN, một ngân hàng khi cho vay đối với một khách hàng thì tổng dư nợ cho vay cao nhất không được phép vượt qúa 15% vốn tự có của ngân hàng. Chức năng của vốn tự có : Chức năng bảo vệ: Trong hoạt đông kinh doanh có rất nhiều rủi ro, những rủi ro này khi xảy ra sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho ngân hàng, đôi khi nó có thể dẫn ngân hàng đến chỗ phá sản.
Khi đó vốn tự có sẽ giúp ngân hàng bù đắp được những thiệt hại phát sinh và đảm bảo cho ngân hàng tránh khỏi nguy cơ trên. Trong một số trường hợp ngân hàng mất khả năng chi trả thì vốn tự có sẽ được sử dụng để hoàn trả cho khách hàng. Ngoài ra, do mối quan hệ hỗ tương giữa ngân hàng với khách hàng, vốn tự có còn có chức năng bảo vệ cho khách hàng không bị mất vốn khi gửi tiền tại ngân hàng. Chức năng hoạt động: Thể hiện ở chỗ vốn tự có có thể được sử dụng để cho vay, hùn vốn hoặc đầu tư chứng khoán nhằm mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Tuy nhiên, do vốn tự có chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh nên lợi nhuận mà nó mang lại cũng không cao. Vì vậy chức năng hoạt đông ở đây cũng chỉ là thứ yếu. Chức năng điều chỉnh: Vốn tự có là đối tượng mà các cơ quan quản lý ngân hàng thường hướng vào đó để ban hành những quy định nhằm điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng, là tiêu chuẩn để xác định tính an toàn (ví dụ như các ngân hàng không được đầu tư vào tài sản cố định vượt qúa 50% vốn của ngân hàng). Vốn tự có còn là căn cứ để xác định TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 và điều chỉnh các giới hạn hoạt động nhằm đảm bảo ngân hàng an toàn trong kinh doanh.
Phƣơng pháp tăng vốn tự có Nguồn bên ngoài : - Phát hành cổ phiếu thường: o Ưu điểm: Không phải hoàn trả cho người mua cổ phiếu, cổ tức của cổ phiếu thường không phải là gánh nặng về tài chính cho ngân hàng trong những năm làm ăn thua lỗ. Phương pháp này làm tăng quy mô vốn nên cũng làm tăng khả năng vay nợ của ngân hàng trong tương lai. o Nhược điểm: Chi phí cao và có thể làm loãng quyền sở hữu ngân hàng (Dulution), giảm mức cổ tức trên mỗi cổ phiếu (Earning per share), làm giảm tỷ lệ đòn bẩy tài chính mà ngân hàng có thể tận dụng. - Phát hành cổ phiếu ưu đãi vĩnh viễn: o Ưu điểm: Không phải hoàn trả vốn và không làm phân tán quyền kiểm soát ngân hàng, tăng khả năng vay nợ của ngân hàng trong tương lai.
o Nhược điểm: Cổ tức phải trả cho các cổ đông là gánh nặng tài chính trong những năm ngân hàng bị thua lỗ, chi phí phát hành cao, giảm mức cổ tức trên mỗi cổ phiếu. - Phát hành giấy nợ thứ cấp (thời hạn tối thiểu 7 năm): o Ưu điểm: Chi phí thấp và không làm phân tán quyền kiểm soát của ngân hàng. Đây là phương pháp hiệu qủa vì trái phiếu này được các nhà đầu tư ưa chuộng trên thị trường. o Nhược điểm: Phải hoàn trả cho người mua trái phiếu khi đến hạn, lãi trả cho trái phiếu là gánh nặng cho ngân hàng về tài chính.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 - Ngân hàng còn có thể thực hiện các biện pháp tăng vốn từ nguồn bên ngoài khác như bán tài sản và thuê lại, chuyển đổi chứng khoán nợ thành cổ phiếu. Nguồn bên trong: - Chủ yếu do tăng lợi nhuận giữ lại. Đây là lợi nhuận ngân hàng đạt được trong năm, nhưng không chia cho các cổ đông mà giữ lại để tăng vốn. o Ưu điểm: Không tốn kém chi phí, không làm loãng quyền kiểm soát ngân hàng và không phải hoàn trả.
Phương pháp này giúp ngân hàng không phụ thuộc vào thị trường vốn nên tránh được chi phí huy động vốn. o Hạn chế: Chỉ áp dụng với các ngân hàng lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều đặn. Hình thức này không thể áp dụng thường xuyên vì nó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông. Phương pháp này phụ thuộc vào: a) Chính sách cổ tức của ngân hàng: Chính sách này cho biết ngân hàng cần phải giữ lại bao nhiêu thu nhập để tăng vốn phục vụ cho mở rộng kinh doanh và bao nhiêu thu nhập sẽ được chia cho các cổ đông.
Ta có: Tỷ lệ thu nhập giữ lại (Lợi nhuận không chia) = Mức thu nhập giữ lại : Thu nhập sau thuế Tỷ lệ chi trả cổ tức = Tổng giá trị cổ tức : Thu nhập sau thuế Tỷ lệ thu nhập giữ lại quá thấp sẽ làm cho mức tăng trưởng vốn ngân hàng sẽ chậm, dẫn đến giảm khả năng mở rộng tài sản sinh lời, tăng rủi ro phá sản. Ngược lại, nếu tỷ lệ thu nhập giữ lại quá lớn sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông dẫn đến thị giá cổ phiếu của ngân hàng bị giảm. b) Tốc độ tăng vốn từ nguồn nội bộ: Một tỷ lệ tăng trưởng vốn từ nguồn nội bộ lý tưởng phải đáp ứng cả hai yêu cầu: Một là, ngân hàng tăng trưởng được tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 sản có (đạc biệt là các khoản cho vay); Hai là, không làm suy giảm quá mức tỷ số vốn/tài sản của ngân hàng. - Cổ phần hóa : Đây là biện pháp tăng vốn của các NHTM NN.
Thực chất việc cổ phần hóa là việc chuyển đổi hình thức sở hữu từ sở hữu nhà nước sang cổ phần bằng biện pháp phát hành cổ phiếu. Trong thời kỳ kinh tế ngày càng phát triển, vấn đề hộ nhập ngày càng trở nên cấp thiết hơn đòi hỏi các ngân hàng phải có một tiềm lực tài chính thật lớn mạnh nếu chỉ trông chờ vào phần vốn cấp của Nhà Nước thì không đủ. Khi cổ phần hóa các NHTM NN trở thành các NHTM CP Nhà Nước sẽ có rất nhiều lợi thế : Tăng quy mô vốn của ngân hàng lên và đa dạng thêm nhiều nguồn bổ sung vốn như : Vốn của nhân dân, nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn tài chính … Khi các nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn tài chính lớn trở thành cổ đông, các NHTM CP Nhà Nước có thể được tiếp xúc với cách quản lý mới, khoa học công nghệ mới …. Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Tóm lại, vốn tự có là nguồn hấp thụ tổn thất tài chính và khi nó gia tăng, sẽ giúp giảm thiểu xác suất và sự khắc nghiệt của hệ thống rủi ro. Như chúng ta đã biết, để thực hiện các chức năng của ngân hàng thương mại một cách thuận lợi thì các ngân hàng thương mại phải có một nguồn vốn đủ lớn và ổn định, bởi vì nguồn vốn đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của các ngân hàng thương mại, bên cạnh việc đánh giá qui mô hoạt động của một ngân hàng thì nguồn vốn này còn được xem là tiêu chí để đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động ngân hàng. Do vậy, cần có các cơ chế kiểm soát vốn phù hợp, nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sự phát triển của các quy định ngân hàng 1.
Sự ra đời của quy chế vốn: Lịch sử của các quy định ngân hàng đã diễn ra từ lâu trước khi có Hiệp ước Basel và tích lũy các kinh nghiệm từ một loạt thay đổi của các chính sách nghiêm ngặt đối với các việc bãi bỏ quy định. Những nỗ lực kiểm soát vốn ngân hàng đầu tiên có thể bắt nguồn từ năm 1863, khi các phần mới trong "hiến chương ngân hàng quốc gia " đã được tạo ra ở Hoa Kỳ1. Cuộc nội chiến tạo ra sức nặng đối với nền kinh tế, buộc chính phủ phải tìm kiếm nguồn vốn. Do đó, các ngân hàng quốc gia mới được phép phát hành đồng tiền riêng của họ được hỗ trợ bởi chứng khoán Mỹ.
Đây là những đơn vị đầu tiên phải trải qua yêu cầu về vốn, dựa trên dân số trong khu vực dịch vụ của họ. Sau "năm vàng 1960 " của sự thịnh vượng kinh tế, châu Âu lại phải trải qua sự phá sản của ngân hàng Herstatt2, khi một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất nước Đức với 2 triệu DM tài sản đã đi xuống.