CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN 1. Từ và phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt 1. Khái niệm, đặc điểm của từ trong tiếng Việt Khái niệm từ tiếng Việt Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Trong ngôn ngữ học, các định nghĩa hay khái niệm về từ đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập khá nhiều.
Chẳng hạn như: Học giả B.Golovin cho rằng: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu.Bloomfiled cùng đồng quan điểm khi nhấn mạnh: Từ là một hình thái tự do nhỏ nhất. Một số quan điểm khác lại cho rằng: Từ là một tổ hợp âm có nghĩa [13, tr. Hoặc: Từ là một ký hiệu ngôn ngữ ứng với một khái niệm [8, tr. Tuy nhiên, để làm căn cứ cho việc nghiên cứu định nghĩa hiện nay được cho là tương đối phổ quát về từ đó là: "Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức" [13, tr.
Ở Việt Nam, trong lĩnh vực ngôn ngữ các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra khái niệm (định nghĩa) về từ tiếng Việt. Một trong những định nghĩa về từ được thừa nhận là đầy đủ và trọn vẹn hơn cả là định nghĩa của Đỗ Hữu Châu: "Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về số, về giống.) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu" [4, tr. Định nghĩa của Đỗ Hữu Châu chỉ ra những đặc điểm cơ bản của từ tiếng Việt như sau: 9 - Một là, tính bất biến về hình thức ngữ âm của từ. Nghĩa là, hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt là âm tiết điều đó là không thay đổi, tuy nhiên số lượng âm tiết trong một từ là biến động, tức là một từ có thể có một âm tiết hoặc là nhiều hơn một âm tiết.
Chẳng hạn như các từ: nhà, áo, mua, đẹp. là những từ một âm tiết, còn các từ: tắc kè, xe đạp. là những từ hai âm tiết. - Hai là, kiểu cấu tạo là một đặc điểm cần chú ý để nhận diện từ.
Nghĩa là dựa vào cấu tạo của từ có thể xác định được ngữ nghĩa và ngữ pháp của từ. - Ba là, đặc điểm ngữ pháp là một trong những đặc điểm quyết định tư cách của một đơn vị nào đấy. Tức là, nếu hai từ có hình thức ngữ âm giống nhau hoàn toàn nhưng có những đặc điểm ngữ pháp khác nhau thì là hai từ khác nhau. - Bốn là, đặc điểm về ngữ nghĩa là đặc trưng quan trọng nhất để khẳng định tư cách từ của một hình thức ngữ âm nào đấy.
Điều đó có nghĩa là, nếu cũng là âm tiết nhưng các âm tiết không có nghĩa thì không thể là từ trong tiếng Việt. - Năm là, đặc điểm chức năng của từ chính là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu. Đây là đặc điểm phân biệt từ với các đơn vị tuy cũng có nghĩa nhưng không thể độc lập tạo câu. - Sáu là, đặc điểm “sẵn có” của từ.
Đây là đặc điểm phân biệt từ với các đơn vị thuộc cấp độ cú pháp. Cũng vì có tính sẵn có nên từ mới là đơn vị lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ (trừ các ngữ cố định). Không có đơn vị ngôn ngữ nào sẵn có mà lại lớn hơn từ. Như vậy, với 6 đặc điểm cơ bản trên Đỗ Hữu Châu đã đem đến một định nghĩa tương đối đầy đủ, trọn vẹn về từ, và cho đến nay giới ngôn ngữ học Việt Nam vẫn sử dụng định nghĩa trên như là cơ sở, căn cứ để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ Việt Nam hiện đại.
Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt Phương thức cấu tạo từ là cách thức tổ chức các đơn vị cấu tạo từ để cho các từ của một ngôn ngữ nào đấy. 10 Trong Tiếng Việt có các phương thức tạo từ cơ bản là: Phương thức ghép, phương thức láy và phương thức từ hóa hình vị. - Phương thức ghép Ghép là phương thức dùng hai hoặc hơn hai đơn vị cấu tạo từ riêng rẽ ghép lại với nhau theo những quy tắc nhất định để cho một từ. Ví dụ: Học và sinh là hai đơn vị vốn không có quan hệ gì với nhau được kết hợp lại với nhau cho từ ghép học sinh.
Đường và sắt là hai đơn vị vốn không có quan hệ gì với nhau được kết hợp lại với nhau cho từ ghép đường sắt Có hai loại từ ghép đó là: từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập. Từ ghép chính phụ: là những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia. Trong đó thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hóa cho thành tố chính. Ví dụ: tàu hoả, sân bay, hàng không, nông sản.
Từ ghép đẳng lập: là những từ ghép mà giữa các từ tố có quan hệ bình đẳng với nhau về nghĩa. Ví dụ: ăn uống, ăn mặc, quần áo, giày dép. - Phương thức láy Láy là phương thức tác động vào một đơn vị cấu tạo từ làm sản sinh ra một đơn vị thứ sinh, giữa hai đơn vị này có quan hệ ngữ âm nhất định. Tổ hợp đơn vị gốc và đơn vị thứ phát là một từ láy.
Ví dụ: Cho đơn vị non. Phương thức láy tác động vào nó cho ta đơn vị thứ sinh nớt và tổ hợp non nớt là một từ láy hai âm tiết. - Phương thức từ hoá hình vị Là phương thức tạo từ tác động vào bản thân một hình vị làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó. Ví dụ: Những từ như: nhà, xe, áo, người, phanh, mì chính, lốp (xe đạp) là những từ hình thành do sự từ hoá các hình vị nhà, xe, áo, người, phanh, mì chính.
11 Các phương thức trên là phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt, trong đó phương thức láy được coi là phương thức rất đặc trưng của tiếng Việt. Vấn đề từ láy trong tiếng Việt 1. Các khái niệm và các quan niệm xung quanh vấn đề về từ láy Từ trong tiếng Việt nói chung và từ láy nói riêng là đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, có thể kể đến những nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Đỗ Hữu Châu, Mai Ngọc Chừ, Diệp Quang Ban. Nguyễn Thiện Giáp, Đái Xuân Ninh.
Tùy vào mức độ nghiên cứu mà mỗi tác giả thông qua mỗi công trình đề cập đến từ láy ở các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, có một điểm chưa đi đến sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu đó là khái niệm, tên gọi của từ láy. Trong đó, một số tác giả đã đưa ra định nghĩa (khái niệm) về từ láy như sau: Nguyễn Tài Cẩn đưa ra khái niệm: Từ láy âm là loại từ ghép mà các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa, vẩn và âm cuối vần.
Đỗ Hữu Châu thì định nghĩa: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với những thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu, biến đổi theo hai nhóm, nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã. thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [4, tr. Nguyễn Thiện Giáp lại cho rằng: “Ngữ láy âm là những cụm từ được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có. Đặc trưng ngữ nghĩa nổi bật của ngữ láy âm là giá trị gợi tả (biểu cảm, mô phỏng, tượng hình, tượng thanh)” [13, tr.
Hoàng Văn Hành quan niệm: “Từ láy, nói chung, là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ 12 giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, vừa hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa" [17, tr. Như vậy, qua tiếp cận các quan niệm, định nghĩa của nhà nghiên cứu cho thấy hiện nay có hai cách nhìn khác nhau về hiện tượng láy như sau: * Cách nhìn thứ nhất coi láy là ghép. Đại diện cho cách nhìn này có nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Tu. Trong đó Nguyễn Tài Cẩn nhấn mạnh: “Từ láy là loại từ ghép, trong đó theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay, các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm.
* Cách nhìn thứ hai coi láy là sự hòa phối ngữ âm có giả trị biểu trưng hóa. Đại diện cho cách nhìn này có Đỗ Hữu Châu, Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành. Trong đó Hoàng Văn Hành khẳng định: “Xét về nhiều mặt, có thể nhận định rằng quan điểm coi láy là sự hòa phối âm có tác dụng biểu trưng hóa có nhiều ưu điểm hơn quan điểm coi từ láy là ghép” [17, tr. Trên đây là một số các quan niệm xung quanh về vấn đề từ láy, để đảm bảo về mặt nhận thức, trong luận văn, chúng tôi thống nhất cách hiểu về khái niệm từ láy như sau: Từ láy là từ đa âm tiết được cấu tạo theo phương thức láy, trong đó quan hệ giữa các âm tiết phải thể hiện được sự hòa phối và lặp lại về mặt ngữ âm, có giá trị biểu trưng và sắc thái hóa về ngữ nghĩa.
Trong tiếng Việt, việc phân biệt từ ghép và từ láy vốn rất phức tạp vì vậy, để phân biệt từ láy và từ ghép chúng tôi đưa ra một số tiêu chí nhận diện từ láy sau đây: - Tiêu chí thứ nhất: Láy âm là phương thức cấu tạo riêng của từ tiếng Việt. Và như vậy từ Hán Việt nói chung không có dạng láy âm (trừ trường hợp yếu tố gốc Hán đã được Việt hóa hoàn toàn).