đặt vấn đề phân tích diễn ngôn khi thực hiện công trình "Hệ thống liên kết văn bản Tiếng Việt". Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu. quan tâm tới diễn ngôn dưới góc độ ngữ dụng học. Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn "Dụng học Việt ngữ" [20] và "Giáo trình ngôn ngữ học" [21] đã đề cập đến một loạt các vấn đề như: ngữ cảnh và ý nghĩa, lý thuyết hành động ngôn từ, phân tích hội thoại, phân tích diễn ngôn trong đó đề cập tới các vấn đề như văn bản và diễn ngôn, mạch lạc và liên kết, ngữ vực, phân tích diễn ngôn và phân tích hội thoại, diễn ngôn và văn hóa.
Tác giả Diệp Quang Ban cũng có khá nhiều các bài biết về phân tích diễn ngôn. Gần đây xuất hiện công trình "Phân tích diễn ngôn - Một số vấn đề lí luận và phương pháp" của tác giả Nguyễn Hoà. Đây là một công trình bàn đến các lý luận phân tích diễn ngôn một cách khá đầy đủ và chi tiết. Bởi vậy đây cũng là công trình được chúng tôi tham khảo để xây dựng phương hướng lý thuyết cho việc thực hiện xử lý ngữ liệu của đề tài.
Quan điểm của Nguyễn Hòa về diễn ngôn cụ thể là: Ông coi diễn ngôn là "sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể" [24, 34]. Ở đây với tư cách là "Sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh" diễn ngôn phải có tính chủ đề, từ chủ đề bộ phận đến chủ đề chung, có mạch lạc. Để tạo nên mạch lạc, theo ông, "diễn ngôn không những phải thể hiện sự liên kết trên nhiều phương diện mà còn là sự tổ chức một cách hợp lí các yếu tố quan yếu (có giá trị giao tiếp) theo quy tắc cần và đủ". Còn "hoàn cảnh giao tiếp cụ thể" mà tác giả nói tới ở đây là tác động của các yếu tố tình huống ngoài ngôn ngữ đối với sự hoạt động của ngôn ngữ như các yếu tố văn hóa, yếu tố dụng học.
Theo quan điểm của Nguyễn Hòa phân tích diễn ngôn thực chất là phân tích mạch lạc, phân tích các hành động nói cũng như việc sử dụng kiến thức nền trong quá trình sản sinh và hiểu diễn ngôn. Cách xử lí diễn ngôn có thể đi từ dưới lên hoặc đi từ trên xuống. Những đặc tính của diễn ngôn và việc phân loại diễn ngôn 1. Đặc tính của diễn ngôn Đặc tính của diễn ngôn bao gồm: tính giao tiếp và kí hiệu của ngôn ngữ, tính mạch lạc và tính quan yếu * Tính giao tiếp và kí hiệu của diễn ngôn Vì ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu dùng làm công cụ giao tiếp nên diễn ngôn - một đơn vị giao tiếp ở bậc lớn hơn câu - cũng phải có hai mặt giao tiếp và kí hiệu.
Trong những thập kỉ gần đây một số tác giả quan tâm đến ngữ dụng học đã cho rằng chức năng giao tiếp được dựa trên cơ sở ý nghĩa của các kí hiệu còn dụng học liên quan không chỉ đến ý nghĩa của người nói. Trên thực tế, chức năng giao tiếp không chỉ dựa trên cơ sở ý nghĩa của các kí hiệu mà còn phụ thuộc vào cả ý định của người nói. Sự nhầm lẫn này tồn tại là do các tác giả trên quan niệm các phát ngôn trực tiếp không có lực ngôn trung, mà theo Lyons "mọi phát ngôn đều có lực ngôn trung" và "các kiểu loại câu hay phát ngôn thông thường như phát ngôn trần thuận, nghi vấn hay khuyến lệnh về thực chất chính là biện pháp ngữ pháp hóa lực ngôn trung điển hình của câu, hay còn gọi là nội dung phi mệnh đề" [trích theo 24, 37]. Từ đó ta có thể thấy, khía cạnh giao tiếp của diễn ngôn sẽ bao gồm cả mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng.
Theo quan niệm của Nguyễn Hòa [24,38] phạm trù giao tiếp của diễn ngôn bao gồm cả hai nội dung: nội dung mệnh đề / biểu hiện và nội dung dụng học. Nội dung dụng học được Grice hiểu là "ý nghĩa phi tự nhiên thể hiện ý định của người nói" [trích theo 24, 38] và nội dung phi tự nhiên này lại được thể hiện qua nội dung mệnh đề. Giao tiếp theo khía cạnh mệnh đề / biểu hiện lại gồm ba thành tố: ý nghĩa của sự việc hay nội dung của các sự kiện hay sự thể đã xảy ra; các tham thể; mối quan hệ giữa các tham thể. Đây là 3 yếu tố quan trọng trong tính giao tiếp của diễn ngôn, khi các yếu tố này thay đổi thì nội dung thông báo cũng thay đổi.
Ngoài 3 yếu tố trên chúng ta cũng phải kể đến phương tiện được sử dụng để chuyển tải một nội dung thông báo, nó cũng góp phần mang lại các giá trị giao tiếp khác nhau. Cũng theo Nguyễn Hoà, tính chất kí hiệu của diễn ngôn, thể hiện ở chỗ nó là "các kí hiệu hay hình thức mà qua đó chúng ta chuyển tải các thông điệp hay trao đổi nội dung ý nghĩa trong một nền văn hóa" [24, 45]. Và, tính chất kí hiệu học của diễn ngôn được thể hiện qua các phạm trù: "thể loại diễn ngôn, diễn ngôn và văn bản". Vì diễn ngôn có tính chất kí hiệu như vậy nên cùng với các kí hiệu của ngôn ngữ, diễn ngôn cũng tham gia vào hai loại quan hệ của ngôn ngữ là quan hệ hệ hình và quan hệ cú đoạn.
Hai loại quan hệ này phản ánh khả năng kết hợp và lựa chọn diễn ngôn tùy theo tình huống, chủ đề giao tiếp. * Tính mạch lạc của diễn ngôn Mạch lạc là vấn đề quan trọng nhất của lý luận diễn ngôn. Nguyễn Thiện Giáp coi "cái quyết định để một sản phẩm ngôn ngữ trở thành một diễn ngôn hay văn bản chính là mạch lạc" [trích theo 24,50]. Geogre Yule gọi mạch lạc là "mối quan hệ bình thường và quen thuộc trong kinh nghệm của chúng ta, được sử dụng để nối nghĩa của các phát ngôn, ngay cả khi những chỗ nối kết này không được nêu một cách hiển ngôn (tức là bằng từ ngữ có tác dụng nối kết) [19, 23].
Như vậy, mạch lạc không phải là liên kết mà liên kết chỉ là một trong những phương thức tạo nên mạch lạc. Theo quan điểm của Nguyễn Hòa mạch lạc được tạo ra bởi "không chỉ các căn cứ ngôn ngữ mà còn trên cả các căn cứ ngoài ngôn ngữ" [24, 51]. Mạch lạc có căn cứ ngôn ngữ chỉ được tạo ra trong sự phát triển mệnh đề, liên kết hay tổ chức khuôn mẫu. Mạch lạc được tạo ra bởi các căn cứ ngoài ngôn ngữ khi thông tin ngữ cảnh được đưa vào và loại suy được áp dụng để hiểu nội dung diễn ngôn.
Còn nhìn từ góc độ dụng học, theo Diệp Quang Ban [trích theo 24, 51] mạch lạc chính là sự áp dụng các quy tắc hành động và hiểu hành động nói. Sự phân chia căn cứ tạo mạch lạc như vậy chỉ mang tính tương đối, thực tế hai căn cứ này có quan hệ biện chứng, các yếu tố ngôn ngữ phản ánh nội dung ngoài ngôn ngữ và các nội dung ngoài ngôn ngữ lại tác động đến diện mạo của các yếu tố ngôn ngữ. Nguyễn Hòa cho rằng "các khía cạnh tạo mạch lạc chính trong diễn ngôn là mạch lạc trong liên kết và mạch lạc trong cấu trúc"[24,51]. Xét về khía cạnh liên kết thì mạch lạc không phải là liên kết mà liên kết chỉ là một phương tiện để hiện thực hóa mạch lạc.
Nunan cho rằng : “Mạch lạc là mức độ phạm vi qua đó diễn ngôn được nhận biết là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp câu hay phát ngôn không có quan hệ với nhau". Còn liên kết là : “các mối liên hệ hình thức thể hiện các mối quan hệ giữa các mệnh đề và giữa các câu trong diễn ngôn” [trích theo 24,52]. Như vậy, chúng ta không nên coi mạch lạc là các phương tiện liên kết hay nội dung văn bản vì liên kết chỉ là phương tiện tạo mạch lạc và nội dung của văn bản lại là một khái niệm rất phức tạp và đa chiều trong đó mạch lạc chỉ là một phần của nội dung thực. Diệp Quang Ban [trích theo 24, 57] đã khái quát sự hiện thực hóa của mạch lạc thành 3 phạm vi : mạch lạc trong quan hệ nghĩa logic giữa các từ ngữ trong văn bản, mạch lạc trong quan hệ giữa những từ ngữ trong văn bản và cái được nói tới trong tình huống từ bên ngoài văn bản và mạch lạc trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói.
Xét ở khía cạnh cấu trúc ta thấy mạch lạc còn được tạo ra bởi cấu trúc hay cách thức tổ chức diễn ngôn. Cấu trúc hay cách thức tổ chức các yếu tố quan yếu có một vai trò quan trọng tạo nên mạch lạc, và cấu trúc diễn ngôn bao hàm sự hiện diện của các yếu tố phát triển nội dung. Cùng với liên kết, cấu trúc là yếu tố tạo nên mạch lạc. Cấu trúc diễn ngôn là sự tổ chức các yếu tố nội dung, quan yếu theo những cách thức tổ chức nhất định và cách thức tổ chức này mang tính chất chủ quan của người viết nhằm thể hiện mục đích của mình.
* Tính quan yếu Tính quan yếu là một trong những khía cạnh đáng quan tâm của lý luận phân tích diễn ngôn. Yếu tố quan yếu theo Nguyễn Hòa là “các đóng góp thể hiện tính giao tiếp của diễn ngôn” [24, 64]. Tính giao tiếp của diễn ngôn lại bao gồm nội dung mệnh đề và nội dung dụng học. Nói một cách khác, các đóng góp là yếu tố quan yếu có chức năng biểu hiện một sự thể gồm các tham thể, quá trình, mối quan hệ giữa các tham thể và ý nghĩa dụng học kèm theo.
Bên cạnh đó, tính chất quan yếu còn bị quy định bởi các yếu tố văn hóa. Có thể nói rằng, trong các đặc tính của diễn ngôn mạch lạc là quan trọng nhất, nó giải thích nhiều khía cạnh của diễn ngôn với tư cách là một quá trình giao tiếp tương tác. Mạch lạc chính là sự tổng hợp 3 yếu tố: liên kết, cấu trúc, sự dung hợp giữa các hành động nói và tính quan yếu. Mạch lạc được tạo ra dựa trên cả những yếu tố ngôn ngữ và yếu tố ngoài ngôn ngữ.
Nó dựa trên yếu tố ngôn ngữ khi được tạo ra trên sự phát triển mệnh đề, liên kết hay tổ chức theo khuôn mẫu và dựa trên yếu tố ngoài ngôn ngữ khi mạch lạc mang tính văn hóa – xã hội và thông tin ngữ cảnh được đưa vào.