Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Chương này trình bày sơ lược một số vấn đề lí luận và cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài, cụ thể đó là: lí thuyết về hành động ngôn ngữ; lí thuyết hội thoại; vài nét về văn xuôi VN giai đoạn 1930 - 1945. Lí thuyết về hành động ngôn ngữ 1. Khái niệm hành động ngôn ngữ Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ tuy không phải là phương tiện giao tiếp duy nhất nhưng là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người. Sử dụng ngôn ngữ nhằm gây ra hiệu quả, tác động đối với nhân vật giao tiếp là người nói đã sử dụng các hành vi ngôn ngữ.
Theo cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1998) (Nguyễn Như Ý chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội thì hành vi ngôn ngữ (J. Searle gọi là hành động ngôn ngữ) là “Một đoạn lời có mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu, ngữ điệu, và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học và người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó”. Nghiên cứu hành động ngôn ngữ không thể không đề cập đến lí thuyết hành động ngôn từ (speech act) của J. Austin trong công trình How to do things with word (Hành động như thế nào bằng lời nói).
Tuy không đưa ra một định nghĩa cụ thể về hành động ngôn ngữ nhưng J. Austin có khẳng định: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ”. [Dẫn theo 8, tr. Ông còn nói thêm: “Có ba loại hành động ngôn ngữ lớn: hành vi tạo lời (acte locutoire), hành vi mượn lời (acte perlocutoire) và hành vi ở lời (acte illocutoire)”.
[Dẫn theo 8, tr. Theo lí thuyết này, một lời nói bao giờ cũng phải được thực hiện thông qua các hành động ngôn từ (hành động nói) gồm ba hành động liên quan đến nhau: 10 - Hành động tạo lời (hành động tạo ngôn) là “hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu. nhằm tạo ra một phát ngôn có hình thức và nội dung”. [Dẫn theo 8, tr.
- Hành động mượn lời (còn gọi là hành động dụng ngôn hay hiệu lực dụng ngôn) là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu quả tâm lý nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói, như: vui, buồn, lo lắng, xúc động, bực tức, phấn khởi,. - Hành động ở lời (còn gọi là hành động ngôn trung) là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, tức là nó gây ra một hiệu quả ngôn ngữ tương ứng ở người nhận. Chẳng hạn, khi chúng ta “hỏi” ai một điều gì đó, người được hỏi có trách nhiệm phải “trả lời” chúng ta, dù câu trả lời là “không biết”.
Hành động ở lời được thực hiện bằng một lực thông báo của phát ngôn (lực ngôn trung) và thể hiện mục đích giao tiếp nhất định (đích ngôn trung), như: hỏi, cầu khiến, trần thuật, biểu cảm,. Đích ngôn trung và lực ngôn trung là tiêu chí nhận diện hành động ở lời. Khác với hành động mượn lời, hành động ở lời có ý định, qui ước và thể chế, dù rằng qui ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác. Ducrot nói rõ thêm về sự khác biệt giữa hành động ở lời với hành động tạo lời và hành động mượn lời.
Sự khác biệt cơ bản giữa chúng là ở chỗ hành động ở lời thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại. Hành động ở lời đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành động ở lời đó. Phân loại các hành động ở lời 1. Quan điểm và kết quả phân loại của J.
Austin Trong công trình How to do thinks with words, J. Austin đã dựa vào động từ ngữ vi tiếng Anh để phân loại các hành động ngôn ngữ thành 5 lớp lớn, đó là (dẫn theo Đỗ Hữu Châu): 11 - Lớp phán xử (verditives, verditifs): Đây là những hành động đưa ra những lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc dựa vào những lí lẽ vững chắc như: xử trắng án, nêu đặc điểm, cho là, xem là, phân tích, phân loại, miêu tả,. - Lớp hành xử (exercitives, exercitifs): Đây là những hành động đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó, chẳng hạn như: Ra lệnh, chỉ huy, khẩn cầu, van xin, lạy, cảnh cáo, v. - Lớp cam kết (commissiver, commissifs): Đây là những hành động ràng buộc người nói vào một chuỗi hành động nhất định, chẳng hạn: hứa, bày tỏ lòng mong muốn, giao ước,bảo đảm, thề nguyền,.
- Lớp trình bày (expositives, expositifs): Đây là những hành động được dùng để trình bày, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như khẳng định, phủ định, từ chối, phản bác, nhượng bộ, dẫn thí dụ,. - Lớp ứng xử (behabitives, comportementaux): Đây là những hành động phản ứng lại cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan. Những hành vi này cũng có khi là cách thể hiện thái độ đối với hành vi và số phận của người khác, như: xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán,. Có thể nói ngay rằng, cách phân loại của J.
Austin có phần không thỏa đáng vì các hành động ngôn ngữ có chỗ bị chồng chéo, có chỗ mơ hồ không xác định được rõ ràng. Quan điểm và kết quả phân loại của J.Searle Khắc phục những hạn chế trong cách phân loại của J. Searle đã đưa ra 12 tiêu chí để phân loại các hành động ở lời, đó là: 1) Đích ở lời, 2) Hướng khớp ghép giữa lời với hiện thực, 3) Trạng thái tâm lí được thể hiện, 4) Sức mạnh mà đích được trình bày, 5) Tính quan yếu của mối quan hệ liên cá nhân, 6) Định hướng hành động, 7) Cặp kế cận, 8) Nội dung mệnh đề, 9) Hứa hẹn, 10) Thể chế xã hội, 11) Động từ ngôn hành, 12) Phong cách thực hiện hành động ở lời. 12 Theo 12 tiêu chí này, lấy 3 tiêu chí đầu và tiêu chí thứ 8 làm căn cứ cơ bản, J.
Searle đã chia hành động ở lời thành 5 lớp: (1) Lớp hành động tái hiện (trước đây ông gọi là xác tín hay biểu hiện): Lớp hành động này có những đặc trưng sau: - Đích ở lời: Đích ở đây là miêu tả, xác tín. một sự tình đang được nói tới. - Hướng khớp ghép: Hướng khớp ghép ở đây là ghép lời với hiện thực mà lời đề cập. Tức hiện thực là cái có trước, lời có sau, lời phải phù hợp với hiện thực.
Nếu lời không phù hợp với hiện thực tức là hành động miêu tả hay xác tín sai. - Trạng thái tâm lí: Niềm tin vào điều mình xác tín. Người nói ra hành động xác tín phải tin là điều mình nói ra là đúng. Người nói ra phát ngôn dẫn trên đã tin vào lời mình nói ra là đúng với hiện thực.
- Nội dung mệnh đề: một mệnh đề. (2) Lớp hành động điều khiển - Đích ở lời: Đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện hành động trong tương lai. Ví dụ 2: Tôi yêu cầu anh từ mai không được đi học muộn. Hành động “yêu cầu” trên có đích là đặt người nghe (anh) vào trách nhiệm phải thực hiện hành động trong tương lai là từ mai phải đi học đúng giờ (tức “không được đi học muộn”.
- Hướng khớp ghép: Hiện thực ghép vào lời, tức lời có trước, hiện thực có sau. Trong lời yêu cầu vừa dẫn, hành động “không đi học muộn” (tức hành động đi học đúng giờ) được thực hiện đúng theo lời “yêu cầu. - Trạng thái tâm lí: Là sự mong muốn người nghe thực hiện hành động. Ở đây, người đưa ra hành động “yêu cầu” với mong muốn người nghe (anh) thực hiện hành động trong tương lai: “từ mai phải đi học đúng giờ”.
- Nội dung mệnh đề: Là hành động tương lai của người nghe. Phát ngôn dẫn trên có nội dung mệnh đề là hành động (đi học đúng giờ) trong tương lai (từ mai) của người nghe (anh). 13 (3) Lớp hành động cam kết - Đích ở lời: Là trách nhiệm thực hiện hành động mà Sp1 bị ràng buộc. Ví dụ 3: Tôi hứa (với bạn) sẽ cho bạn vay 10 triệu.
Đích ở lời của hành động ngôn ngữ “hứa” dẫn trên là trách nhiệm phải thực hiện hành động “cho bạn vay 10 triệu” của Sp1 (người nói - tôi). Sp1 phải thực hiện hành động này là bởi sự giàng buộc của lời “hứa” mà Sp1 đã đưa ra. - Hướng khớp ghép: Hiện thực ghép vào lời. Tức lời hứa (cho Sp2 - bạn vay 10 triệu) của Sp1 là cái có trước, hiện thực Sp1đưacho Sp2 vay 10 triệu là cái xảy ra sau lời hứa.
Nói cách khác, Sp1 nói lời hứa trước rồi sau đó mới có hành động đưa tiền cho Sp2. Không ai lại đưa tiền rồi mới hứa. - Trạng thái tâm lí: Trạng thái tâm lí thể hiện qua lớp hành động ngôn ngữ thuộc nhóm này là ý định của người nói (Sp1). Trong ví dụ vừa dẫn, trạng thái tâm lí của Sp1 ở đây là ý định cho Sp2 (người nghe) vay 10 triệu.
- Nội dung mệnh đề: Nội dung mệnh đề ở đây là hành động trong tương lai của người nói. Trong ví dụ dẫn trên, nội dung mệnh đề là hành động Sp1 cho Sp2 vay 10 triệu. (4) Lớp hành động biểu cảm - Đích ở lời: Là bày tỏ trạng thái tâm lí phù hợp với hành động ở lời. Ví dụ 4: Trời ơi sao mà nóng thế! Đây là hành động than vãn (trời nóng) của Sp1.
Đích ở lời là Sp1 bày tỏ tâm trạng khó chịu trước hiện thực trời nóng. - Hướng khớp ghép: Không có hướng khớp ghép (chỉ là thái độ của người nói, không đánh giá được chân - ngụy). - Trạng thái tâm lí: Thay đổi tùy theo từng hành động ở lời. Trạng thái tâm lí thể hiện trong ví dụ trên là sự khó chịu của Sp1 trước hiện thực trời quá nóng.
- Nội dung mệnh đề: Là một hành động hay tính chất nào đó của Sp1 hay của Sp2. (5) Lớp hành động tuyên bố - Đích ở lời: Là gây ra một sự thay đổi bởi lời tuyên bố. 14 Ví dụ 5 (lời của giám đốc công ty): Tôi tuyên bố cuộc họp bắt đầu.