chương 1, 4 và 7; đồng thời là chủ biên. Chu Viết Bình viết các chương 8 và 9. Nguyễn Xuân Lam viết các chương 3 và 5. Chu Văn An viết các chương 2 và 6.
Các tác giả xin cảm ơn Trường Đại học Giao thông Vận tải, các đồng nghiệp trong Bộ môn Cầu Hằm đã giúp đỡ và tạo điều kiện hoàn thành giáo trình này. : Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn đến PGS. Trần Thế Truyền đã đóng góp những nhận xét, góp ý quý báu để hoàn thiện giáo trình này. Mọi ý kiến xin gửi về theo địa chi: hxnam@utc.
Xin chan thanh cảm ơn. Cac tac gia CTNT Phan 2 * 3 4* CTNT Phần 2 _ Chương Í | NHỮNG CÔNG TÁC VÀ CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG AP DUNG TRONG THI CONG CAU 1. CONG TAC DAO, DAP DAT Công tác làm đất là những công việc đào, đắp đất, đá trong xây dựng. Trong thi công cầu, công tác làm đất bao gồm các công việc như san ủi tạo mặt bằng thi công, đào đất trong hồ móng, đắp đất đầu cầu hay đắp đảo nhân tạo hay đường công vụ phục vụ thi công các hạng mục.
Cần lựa chọn loại máy thi công phù hợp, đồng thời tính toán chi phí ca máy phục vụ cho công tác lập kế hoạch, dự toán và tổ chức thi công. Công tác san tạo mặt bằng Trong thi công cầu, công tác san tạo mặt bằng được thực hiện trong giai đoạn xây dựng công trường và trong giai đoạn thi công móng mồ trụ nằm trong khu vực khô cạn. Việc di chuyên các công trình hạ tầng phải phối hợp với các đơn vị trực tiếp quản lý những công trình này để có phương án chuyển dời, kinh phí di chuyển được thê hiện trong dự toán. Công trình cũ có thể là cả một cầu cũ hoặc chỉ một vài hạng mục còn sót lại như mồ, trụ hoặc móng cũ mà ảnh hưởng đến các vị trí của cầu mới.
Nếu là cả một công trình cầu cũ cần tháo đỡ khi đó công việc này sẽ hình thành một dự án riêng. Nếu chỉ một vài hạng mục lẻ thì thuộc dự án cầu mới và được ghi vào dự toán thi công, nhà thâu thi công phải thực hiện. Biện pháp phá dỡ công trình cũ được thiết kế và tính toán với khối lượng cụ thể. Công tác san những mô cao và đắp lấp những chỗ trũng thấp không để tụ nước cục bộ.
Cao độ của từng hạng mục công trình phụ tạm như kho, bãi căn cứ vào thiết kê của từng hạng mục này, khi xây dựng sẽ được san đắp riêng. Thiết bị chủ yếu là may wl. Công tác đào đất trong hố móng 1. Thiết bị thi công Đào đất trong hỗ móng chủ yếu bằng máy, nhân lực chỉ kết hợp để đào xả ở: những vị trí góc chết mà máy không tiếp cận được va xu ly day mong.
Máy sử dụng để đào đất trong hỗ móng bao gồm máy đào gầu nghịch, máy đào gau ngoạm. và thiết bị xói hút. Máy đào gau nghịch chạy trên bánh xích được sử dụng pho bién dé dao hé mong vì máy di chuyên trên những địa hỉnh. phức tạp, máy có thể đào được ở vị trí thấp hơn cao độ máy đứng, đất đào lên được đỗ đồng hoặc đỗ lên thùng bên của ô tô tự đổ.
Các máy đào đều có cần điều khiển bằng thủy lực nên làm việc linh hoạt và hiệu suất cao. Mỗi mã hiệu máy đều có sơ đồ chuỗi công tác của máy trong đó xác ˆ_ định các bán kính và chiều sâu đào. Những thông số cơ bản của máy bao gồm: CTNT Phan 2 * 5 V: Dung tích gầu mỉ Ra: Bán kính đào tối đa m Rumax: Bán kính đào sâu nhất m Hma„: Chiều sâu đào tối đa m Ruaøng: Bán kính đào vach dimg m Hạøg: Chiều sâu đào vách đứng m n: Chu kỳ hoạt động của máy gầu/h: Đmax 0 -1 2 -3 4 -5 6 7 -8 -9 13 12 11 10 9 8 7 6 5 4 3 2 1 Om RHmax — Rmax Hình 1. May dao gau nghich và sơ đồ chuỗi công tác của máy Năng suất làm việc của máy đào xác định theo công thức: P=Vnk,kk, (mì) AD Trong đó : V - dung tích của gầu, tra theo lý lịch máy mì n- số chu kỳ hành trình đào và đỗ một gầu của máy.
k¡- hệ số triết giảm do không lấy đầy gầu (thường lấy bằng 0,95) kạ - hệ số triết giảm đo thời gian di chuyển (thường lẫy bằng 0,85) kạ - hệ số sử dụng máy không liên tục (thường lấy bằng 0,75). Công tác vận chuyển và đổ đất thải (có khối lượng riêng y): cần xác định số lượng xe tải có trọng tải G, lượng đất mỗi lần chở V„e Ty , thời gian của một chuyến xe gồm thời gian đi về, thời gian lùi vào vị trí đổ và trút đổ một ben đất khoảng 5 phút (khoảng 0,12h), tốc độ chạy xe trên công trường là 5km/h, khoảng cách vận chuyên là L(km), do đó tổng thời gian vận chuyển của một chuyến xe là T (h) được tính theo công thức: 6 * CTNT Phần 2 =2.2) Số lượng xe ô tô cần phối hợp sử dụng trong quá trình đào là: TP - có N=-——+l (1.3) "` xe Trong đó: k là hệ số đỗ đầy ben (thường lấy bằng 0,9), m Cáp chồng xoay ˆ 3 sâu ` Hình 1. Máy đào gau ngoam 1- Ham gau. 3- Đầu nâng dưới.
4- Đầu nâng trên. 5- Vong móc vào cân cấu. 7- Hàm mang ca. 9- Dây cáp đóng mở.
10- Day cáp treo vào cẩn cẩu. Thiết bị xói hút gồm hai bộ phận xói làm rã rời đất thành bùn và bộ phận đầu hút để hút bùn đất ra ngoài khu vực đào. Hai bộ phận này về nguyên tắc là hoạt động riêng nhưng cũng có thể ghép chung thành một thiết bị tổ hợp gọi là thiết bị xói hút. -Vòi xói là một máy bơm nước có đầu vòi tạo áp lớn bắn phá đất và trộn với nước.
Loại máy này sử dụng nhiều ở các mỏ khai thác quặng gọi là súng _ bắn nước, đầu xói của máy có thể đùng để đào phá đất khi đào hố móng ngập chìm trong nước. Sung băn nước (4) và đấu xói của súng băn nước được sử dụng lam voi xói (b) Đầu hút có hai loại: đầu hút hoạt động bằng dòng khí nén, đầu hút hoạt động băng dòng nước. Đâu hút hoạt động băng khí nén còn gọi là đâu hút khí động bao CTNT Phần 2 * 7 gồm ống hút có đường kính 100-250mm, song song với ống hút là đườngôống dẫn hơi ép hoặc dòng nước từ máy bơm thôi vào buồng hút bố trí gần sát cửa hútở phía dưới. Tại đây đường ốngô hơi ép đổi chiều và thổi ngược lên theo một đầu ống thu nhỏ lại để tăng tốc độ thôi.
Đường hút nối với buồng hút theo một góc chéo 20- 25 so với phương thẳng, từ miệng hút nước và bùn bị cuốn vảo rồi theo luồng khí ép chảy dọc theo đường ống xả ra ngoài. Máy có thể cuốn theo lên cả những viên đá kích cỡ lớn có thể làm tắc đường ống, do đó ở miệng hút phải có lưới chặn chỉ cho những viên đá có kích thước nhỏ hơn 1/4 đường kính ống ô lọt qua. Biện pháp xói hút không áp dụng được đối với nền sét dẻo bởi dễ bị làm tắc đường ống trong quá trình bơm hút. Đầu hút hoạt động bằng dòng nước còn gọi là đầu hút thủy động có cầu tạo tương tự như đầu hút khí động nhưng thường được chế tạo tại công trường, đầu hút được lắp với máy bơm nước.
l nước cao ap ~— —— — Bun (2-3)d | J | Hình 1. Đầu hút thủy động (a) và đầu lút khí động (b) Trong công tác nạo vét, đào đất trong hỗ móng và khai thác quặng người ta sử dụng máy hút bùn là loại máy bơm cánh quạt hướng trục, thả chìm di động. Để không bị các hạt rắn phá hỏng, cánh quạt được chế tạo dưới dạng đĩa được đúc bằng hợp kim rắn. Đầu hút có lưới lọc “chỉ cho phép hút những hạt có đường kính phù hợp với kích thước của họng máy và ống bơm.
Máy! hút bùn thả chìm. Cae biện pháp đào đất trong hồ móng Khi chiều sâu của hố móng H <3 ,0m và không có hiện tượng cát trôi, cát chây vách hố móng được đào bạt ta luy không cần gia cố chống vách gọi là hỗ móng đào trần, Độ dốc của taluy 1:m phụ thuộc vào chiều sâu hồ và địa chất của nên. \ ¢ _ | CĐTN xZVYWX7YXX7Y* 0. Hinh dang và kích thước hồ móng đào tran - Khi hố móng có dạng hình máng được đào sau khi đã san ủi mặt bằng, thể tích khôi đào có thê xác định theo công thức: V = [abted +(a+ eV +a)}— (1.4) Trong đó: a, b c, d: kich thuéc hai chiéu của day va mat trén hố móng (m).
Trong trường hợp không. thé tạo mặt bằng thì chiều sâu hố đào lẫy theo giá trị thấp nhất (tính theo cao độ mặt đất hiện hữu), thể tích được tính theo công thức (1.4) và cộng thêm phần hiệu chỉnh do độ dốc của mặt đất tự nhiên như sau: AV =c.5) Trong do: 1/m,: d6 dốc của mặt đất mép hỗ móng. 1/m: độ dốc của ta luy hỗ móng. Độ dốc của ta luy vách hỗ móng đào trần Chiều sâu hỗ móng H (m) <1,5.
1,5-3,0 Loai dat nén lcm Đất đắp, độ âm tự nhiên 1:0,25 1:1,00 Dat cat, dat sdi,am =| 1:0,50 1:1,00 Đất pha cát, âm tự nhiên 1:0,25 — 1:0,70 Đất thịt, âm tự nhiên 1:0,00 1:0,50 Đất sét rắn 1:0,00 1:0,25 Dat ddi, khd 1:0,00 —- 1:0,50 CTNT Phần 2 * 9 Dùng máy đào gầu nghịch, đứng ở vị trí sao cho mép bánh lốp hoặc cạnh dải xích cách mép hỗ móng 1,0m và di chuyên đọc theo chiều dải cạnh hỗ để đào lấy đất lần lượt từng lớp. Kết hợp nhân lực sửa sang ta luy hố móng. Khi đào đến vị trí cách cao độ thiết kế của đáy móng 0,5m thì phải đào hoàn toàn bằng thủ công. Dat thai được vận chuyển lên miệng hỗ móng bằng thủ công, đi theo bậc lên xuông tạo trên ta luy hồ móng hoặc xúc đỗ vào thùng chứa rồi dùng cần cầu đưa lên khỏi hồ móng và đỗ lên ôtô.
Vị trí đứng của ôtô thay đổi theo hành trình đi chuyển của máy đào. Đào đất trong hỗ móng đào trần bằng máy đào gầu nghịch Khi hồ móng có chiều sâu H> 3m hoặc nền đất yếu có hiện tượng cát chảy dễ sập lở, ngoài ra để giảm bớt diện tích miệng hỗ móng vách hỗ móng đào thắng đứng, khi đó thành hỗ móng phải được kè chống bằng kết cấu tạm thời gọi là tường ván chống vách.