Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này tác giả làm rõ lý do thực hiện đề tài, mục tiêu, các vấn đề cần nghiên cứu, phạm vi, đối tượng, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và bố cục bài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm trước đây. Ở chương này, tác giả hệ thống một số lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu trước đây của các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước.
Dựa trên cơ sở những bằng chứng thực nghiệm này, tác giả xây dựng chương phương pháp nghiên cứu và thực hiện kiểm định với dữ liệu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày mô hình nghiên cứu thực nghiệm, các giả định, mô tả các biến được sử dụng, làm rõ cách thức thu thập và xử lý dữ liệu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Tác giả trình bày các kết quả kiểm định của đề tài cho thị trường Việt Nam mà tác giả phát hiện được và thảo luận các kết quả nhận được. Chương 5: Kết luận. Cụ thể là tác giả đã tóm tắt đưa ra kết luận chung cho toàn bộ nội dung luận văn, đề xuất một số kiến nghị, đồng thời xác định những điểm hạn chế của đề tài để tiếp tục hoàn thiện những điểm này trong các nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY.1 Chính sách tiền tệ 2.1 Khái niệm chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó Ngân Hàng Trung Ương thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng, nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra (Trương Mộc Lâm, 2013).2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ hầu như được thống nhất ở các quốc gia.
Xuất phát từ sự điều chỉnh lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu, trước hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó, góp phần tăng trưởng kinh tế và giải quyết công ăn việc làm (giảm thất nghiệp). Mục tiêu trung gian được Ngân Hàng Trung Ương lựa chọn là tổng khối lượng tiền cung ứng (M1,M2,M3) hoặc mức lãi suất thị trường (ngắn và dài hạn) để thông qua đó nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. Mục tiêu hoạt động bao gồm: Tổng lượng dự trữ (dự trữ bắt buộc), lãi suất liên ngân hàng, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu của Ngân Hàng Trung Ương. Đây là những biến số nằm giữa công cụ của chính sách tiền tệ và mục tiêu trung gian.3 Công cụ của chính sách tiền tệ Công cụ của chính sách tiền tệ là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi Ngân Hàng Trung Ương, nhằm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến lượng tiền trong lưu thông và lãi suất, từ đó đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Ngân Hàng Trung Ương sử dụng hai nhóm công cụ Chính sách tiền tệ đó là nhóm công cụ trực tiếp (hành chính) và nhóm công cụ gián tiếp (thị trường) (Nguyễn Văn Tiến, 2011). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Công cụ trực tiếp tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông, được các nước áp dụng phổ biến nhất là hạn mức tín dụng. Nhóm công cụ gián tiếp bao gồm dự trữ bắt buộc, chính sách tái cấp vốn (chính sách lãi suất, chính sách chiết khấu); nghiệp vụ thị trường mở, được Ngân Hàng Trung Ương sử dụng thông qua cơ chế thị trường để tác động đến mục tiêu của chính sách tiền tệ.4 Các quy tắc chính sách tiền tệ Theo Phạm Thế Anh (2008), các quy tắc chính sách tiền tệ được Ngân Hàng Trung Ương sử dụng phổ biến ở các nước gồm: Đặt mục tiêu cho cung tiền: Được ủng hộ rộng rãi bởi các nhà kinh tế rằng cung tiền là nguyên nhân chính gây ra các biến động của nền kinh tế. Ngân Hàng Trung Ương sẽ ấn định mức tăng trưởng cung tiền hàng năm ở mức thấp và ổn định nhằm duy trì sự ổn định của sản lượng, việc làm và giá cả.
Tuy nhiên, quy tắc chính sách tiền tệ này không phải là quy tắc tối ưu theo như quan điểm của các nhà kinh tế. Bời vì sự ổn định của cung tiền chỉ có thể giúp ổn định tổng cầu nếu như tốc độ lưu chuyển của tiền là không thay đổi. Nhiều cú sốc kinh tế gây ra sự thay đổi của cầu tiền là do tốc độ lưu chuyển. Tăng trưởng cung tiền cần được điều chỉnh linh hoạt và phù hợp.
Đặt mục tiêu cho GDP danh nghĩa: Ngân Hàng Trung Ương sẽ công bố mức mục tiêu của GDP danh nghĩa (GDP tính theo giá hiện hành). Nếu GDP danh nghĩa thấp hơn mức GDP mục tiêu, Ngân Hàng Trung Ương sẽ tăng cung tiền nhằm kích thích tổng cầu và ngược lại. Bởi vì mục tiêu GDP danh nghĩa cho phép các chính sách tiền tệ phản ứng với những thay đổi của tốc độ lưu chuyển tiền tệ cho nên hầu hết các nhà kinh tế cho rằng có thể mang lại sự ổn định về sản lượng và giá cả tốt hơn so với các quy tắc của các nhà kinh tế tiền tệ. Đặt mục tiêu cho mức giá: Với quy tắc này, Ngân Hàng Trung Ương sẽ công bố mức lãi suất mục tiêu đối với tỉ lệ lạm phát và điều chỉnh cung tiền, khi lạm phát TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực tế lệch khỏi tỉ lệ lạm phát mục tiêu.
Giống với như quy tắc mục tiêu GDP danh nghĩa, quy tắc này cũng giúp nền kinh tế trung hòa được các cú sốc về cầu tiền. Quy tắc mục tiêu mức giá có tính minh bạch đối với công chúng. Quy tắc Taylor: Được đề xuất bởi nhà kinh tế học John – Taylor, ông cho rằng Ngân Hàng Trung Ương sẽ điều chỉnh cung tiền và lãi suất bất cứ khi nào lạm phát lệch khỏi mức lạm phát mục tiêu hoặc tỉ lệ thất nghiệp lệch khỏi mức thất nghiệp tự nhiên, GDP lệch khỏi mức GDP tiềm năng. Bởi vì mối quan hệ ngược chiều giữa lạm phát và thất nghiệp khi điều chỉnh tiền tệ cho nên điều quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách là phải kết hợp hài hòa được giữa hai mục tiêu này một cách đồng thời.
Quy tắc này cũng quy định Ngân Hàng Trung Ương nên thay đổi lãi suất danh nghĩa ra sao để đáp ứng với các thay đổi của lạm phát, GDP hoặc các điều kiện kinh tế khác.2 Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ 2.1 Khái niệm Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ (Monetary Policy Transmission Mechanism – MPTM) là quá trình từ thay đổi trong lãi suất (hoặc cung tiền) của cơ quan điều hành chính sách tiền tệ làm ảnh hưởng đến mức giá và sản lượng của nền kinh tế. Có thể thấy cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ là một quá trình mà sự thay đổi trong chính sách tiền tệ dẫn đến hàng loạt sự thay đổi khác trong các biến số của nền kinh tế như lãi suất, giá cả tài sản, chi tiêu, tiêu dùng, tỷ giá hối đoái, dòng tiền, khả năng cấp tín dụng của hệ thống Ngân Hàng Thương Mại và cuối cùng là hướng tới mục tiêu mức giá, sản lượng và thất nghiệp (Mishkin, 2004). Theo Mishkin (2004) dựa trên học thuyết của Keynes, các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ bao gồm các kênh chính như: tỷ giá, giá tài sản, lãi suất và kênh tín dụng. Từ đó, tác động đến sản lượng, thất nghiệp và lạm phát trong nền kinh tế.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Kênh tỷ giá hối đoái Tác động của tỷ giá hối đoái lên xuất khẩu ròng là một kênh truyền dẫn quan trọng của chính sách tiền tệ. Trong trường hợp Ngân Hàng Trung Ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, cung ngoại tệ tăng, lãi suất thực giảm, gây áp lực giảm giá lên đồng nội tệ. Tức là tỷ giá hối đoái theo phương pháp yết giá trực tiếp sẽ tăng. Do đồng nội tệ giảm giá nên giá cả hàng hóa trong nước sẽ rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, làm cho nhập khẩu giảm, xuất khẩu tăng và cán cân thương mại được cải thiện theo hướng thặng dư.
Điều này làm cho tổng cầu tăng dẫn đến làm tổng sản lượng tăng và ngược lại. M tăng ⇒ ir giảm ⇒ E tăng ⇒ XK tăng ⇒ Y tăng 2.3 Kênh lãi suất Khi Ngân Hàng Trung Ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng (tức là M tăng) sẽ làm cho lãi suất thực giảm. Điều này làm giảm chi phí vốn vay, tăng nhu cầu đầu tư vào vốn lưu động để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, gia tăng chi tiêu đầu tư. Do đó làm tăng tổng cầu và sản lượng Y trong nền kinh tế Mô hình IS – LM truyền thống của Keynes có thể được đặc trưng bởi hiệu ứng mở rộng tiền tệ như sau: M tăng ⇒ if giảm ⇒ I tăng ⇒ Y tăng Nếu lãi suất danh nghĩa chạm mức sàn zero trong suốt giai đoạn giảm phát, với lãi suất danh nghĩa bằng 0, khi cung tiền mở rộng (M tăng) làm gia tăng mức giá cả kỳ vọng (Pe tăng), dẫn đến lạm phát kỳ vọng tăng (𝜋e tăng), lãi suất thực giảm (if giảm), kích thích chi tiêu và do đó làm tăng sản lượng Y.
Cụ thể được biểu diễn qua phương trình sau: M tăng ⇒ Pe tăng ⇒ 𝜋e tăng ⇒ ir giảm ⇒ I tăng ⇒ Y tăng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Kênh giá tài sản Trong trường hợp chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Trung Ương thay đổi, giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán sẽ thay đổi và qua đó tác động đến đầu tư của doanh nghiệp (Lý thuyết Tobin’s q) và tiêu dùng của cá nhân (hiệu ứng của cải của Modigliani). Đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng của cá nhân thay đổi sẽ tác động đến tăng trưởng của nền kinh tế. Kết hợp những quan điểm cùng các trường phái kinh tế học cho thấy, với giá cổ phần tăng lên (Pe tăng) sẽ dẫn đến giá trị thị trường của công ty chia cho chi phí thay thế của vốn cao hơn (q tăng). Do đó tăng chi tiêu đầu tư và sản lượng.
M tăng ⇒ Pe tăng ⇒ q tăng ⇒ I tăng ⇒ Y tăng Kênh giá tài sản tồn tại hầu hết ở các quốc gia phát triển nhưng chỉ tồn tại ở một số các quốc gia đang phát triển bởi vì thị trường nợ và thị trường vốn ở các quốc gia này vẫn chưa phát triển mạnh (Mishra and Montiel, 2012) 2.