CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ THÀNH HỐ ĐÀO VÀ SỬ DỤNG CỌC XIMĂNG - ĐẤT TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ THÀNH HỐ ĐÀO.1 Sơ lược các giải pháp gia cố hố đào hiện nay thường dùng Các giải pháp chống đỡ thành hố đào thường được áp dụng là: Tường cừ thép (steel sheet pile), tường barrette (tường bê tông cốt thép trong đất), tường vây cọc nhồi đường kính nhỏ, tường cừ cọc ximăng – đất. Tường cừ thép Ngày nay, trong lĩnh vực xây dựng tường cừ thép có tên gọi khác là cừ Larsen được sử dụng ngày càng phổ biến trong lĩnh vực xây dựng, cầu, cảng, hầm và các công trình giao thông và công trình công nghiệp khác. Cừ thép không chỉ được sử dụng trong các công trình tạm thời mà cũng có thể xem như là một loại vật liệu xây dựng, với những đặc tính riêng biệt, thích dụng với một số bộ phận chịu lực trong công trình xây dựng. Cừ thép được sử dụng với nhiều hình dạng và kích thước khác nhau với những đặc tính và khả năng chịu lực ngày càng được cải thiện.
Ngoài cừ có hình dạng mặt cắt ngang chữ U, Z thông thường mà còn có các loại có mặt cắt ngang Omega (W), dạng tấm phẳng cho các kết cấu tường chắn tròn khép kín, dạng hộp được nối thành bởi hai cọc U hoặc 4 cọc chữ Z hàn với nhau. Ngoài ra đối với các công trình có tải trọng lớn phải dùng các loại cừ cọc thép ống hoặc cọc thép hình. Về kích thước bề rộng cừ thép có bề rộng thay đổi từ 400mm đến 750mm. Đối với các loại cừ có bề rộng bản lớn thường có hiệu quả kinh tế hơn trong quá trình sử dụng.
Chiều dài cừ có thể được chế tạo lên tới 30m tại xưởng. Tuy nhiên chiều dài thực tế của cừ thép thường được quyết định vận chuyển (thông thường từ 9m đến 15m). Riêng dạng cừ gia công tại công trường có thể lên tới 72 m. Ưu điểm: Có khả năng chịu lực lớn trong khi đó trọng lượng khá bé.
5 Cừ này có thể nối dễ dàng bằng mối hàn hoặc bulông nhằm nâng cao chiều dài của cừ.1 Gia công hố đào bằng cừ thép hình chữ U Có thể sử dụng nhiều lần và tính hiệu quả kinh tế cao. Chất lượng, khả năng chịu tải, tiêu chuẩn an toàn được thiết kế trong nhà xưởng. Thi công nhanh, thuận tiện và đơn giản trong điều kiện đất yếu. Khả năng ngăn nước tốt.
Nhược điểm Bị ăn mòn mạnh trong môi trường làm việc. Tuy nhiên, chúng ta có thể hoàn toàn khắc phục được bằng các phương pháp bảo vệ cừ như: dùng sơn chống ăn mòn, mạ kẽm, chống ăn mòn điện hóa, hoặc có thể sử dụng các loại cừ thép có khả năng chống ăn mòn cao. Do đó, để sử dụng cừ thép để gia cố hố đào chúng ta cần phải nghiên cứu các vấn đề sau: Tùy theo yêu cầu ta có thể bố trí cừ hợp lý. Tường cọc barrette (tường cừ trong đất) Tường cọc barrette là loại tường bêtông cốt thép trong đất thường có chiều dày từ 600mm đến 800mm để chắn, ổn định hố móng sâu trong quá trình thi công.
Tường có tiết diện chữ nhật thường có chiều rộng thay đổi từ 2,6m đến 5,0m. Tùy theo chiều sâu tầng hầm, điều kiện địa chất công trình mà ta có thể tính toán và thiết kế chiều sâu 6 tường hợp lý và chiều sâu tường có thể lên tới 40m. Tường cọc barrette được sử dụng cho các hố móng sâu trên 10m. Chúng kết hợp hệ neo, giằng chống tạo thành bức tường khép kín ngăn chặn áp lực đất, áp lực nước ngầm, ngăn thấm và các điều kiện bất lợi khác làm ảnh hưởng tới kết cấu bên trong tầng hầm.2 Chi tiết tường cọc barrette tầng hầm công trình dân dụng Ưu điểm: Tường cọc barrette có ưu điểm là có độ cứng cao, tính biến dạng tương đối ít, tính chống thấm tốt và đặc biệt là nó có khả năng chịu được áp lực cao.
Nhược điểm: Do công nghệ thi công còn phức tạp, khối lượng vật liệu lớn. Đòi hỏi máy móc hiện đại và đội ngũ công nhân có tay nghề cao. Hiện nay, loại tường này được sử dụng phổ biến ở Việt Nam và các nước trên thế giới trong các lĩnh vực xây dựng, giao thông và cả thủy lợi. Tường cọc khoan nhồi (tường vây cọc nhồi đường kính nhỏ) Đây là phương pháp khoan tạo lỗ đồng thời kết hợp với việc bơm dung dịch bentonite có khả năng giữ thành vách hố đào không cho sạt lỡ.
Sau đó làm sạch cặn lắng và đất bùn rơi xuống dưới đáy lỗ, tiến hành hạ lồng thép và cho đổ bêtông cọc (theo phương pháp đổ bêtông dưới nước). Khi bêtông cọc đã ninh kết, đông rắn và đạt được cường độ nhất định ta tiến hành đào hở đầu cọc, đập vỡ đầu cọc và thi công dầm giằng đỉnh cọc tường vây. 7 Các phương pháp tạo lỗ: Tạo lỗ cọc bằng đào thủ công. Tạo lỗ cọc bằng thiết bị khoan guồng xoắn và hệ guồng xoắn (tạo hệ thống tường vây Diaphragm wall).
Tạo lỗ cọc bằng thiết bị khoan thùng đào. Tạo lỗ bằng thiết bị gầu dẹt cơ cấu thủy lực. Tạo lỗ cọc bằng máy khoan cọc nhồi kiểu bơm phản tuần hoàn. Tạo lỗ bằng phương pháp sói nước bơm phản tuần hoàn.
Vị trí cọc được bố trí tùy theo điều kiện chịu tải, điều kiện địa chất và qui mô công trình mà ta có thể bố trí cọc liên tục hoặc cách khoảng. Ưu điểm Khi thi công cũng như sử dụng cọc nhồi phải đảm bảo điều kiện an toàn cho các công trình lân cận. Quá trình thi công móng cọc, dễ thay đổi các thông số của cọc (chiều sâu, đường kính). Tăng sức chịu tải nhờ vào tăng đường kính và chiều sâu của cọc.
Làm giảm bớt số lượng cọc cũng như thời gian thi công cọc. Có thể xuyên qua các tầng sét cứng, cát chặt ở giữa nền đất để xuống các độ sâu lớn.3 Cọc nhồi đơn Hình 1.4 Cọc nhồi tiếp xúc 8 Hình 1.5 Cọc nhồi các tuyến Đầu cọc có thể chọn ở độ cao tùy ý cho phù hợp với kết cấu công trình và quy hoạch kiến trúc mặt bằng. Nhược điểm Khi thi công đòi hỏi thiết bị tốt, đầu tư cao cho hệ thống máy thi công, giá thành cao. Khó kiểm tra khuyết tật và chất lượng cọc sau khi thi công.
Các cọc khoan nhồi thường gặp trong thi công tường vây 1.2 Giới thiệu về cọc ximăng – đất bảo vệ thành hố đào, những sự cố xảy ra trong tính toán và thực tế.1 Khái niệm và sơ lược lịch sử hình thành cọc ximăng–đất Cọc ximăng - đất sử dụng cốt liệu chính là đất tại chỗ, gia cố với một hàm lượng ximăng, phụ gia nhất định tùy thuộc vào loại và các tính chất cơ – lý – hóa của đất nền tại khu vực đặt công trình thi công. Mục đích chính của việc sử dụng công nghệ cọc ximăng – đất là nhằm cải thiện để tăng cường độ, giảm tính thấm và tăng sức bền dựa trên các phản ứng của ba thành phần chính là đất, ximăng và nước để tạo nên một loại vật liệu mới có cường độ tốt hơn, môđun biến dạng tăng …. Nhìn chung, cho đến thời 9 điểm hiện nay thì trên thế giới đã cho ra đời các công nghệ thi công mới áp dụng cho cọc ximăng - đất như sau: Năm 1954: Công ty Repakt của Mỹ cho ra đời công nghệ MIP (Mixing in Place). Đây là công nghệ khoan đơn chỉ áp dụng ở Mỹ.
Năm 1960 công nghệ DLM (Deep Lime Mixing) được Trung Quốc báo cáo và nền tảng dựa trên công nghệ CDM (Ciment Deep Mixing). Nhưng đến năm 1970 thì quá trình nghiên cứu được bắt đầu. Năm 1961 người Nhật đã áp dụng công nghệ MIP để thi công hơn 300,000m cọc ximăng – đất gia cố hố đào và ngăn thấm nước ngầm. Đến 1970 công ty Seiko Kogyo của Nhật đã áp dụng thành công tường chắn bằng công nghệ DMM (Deep Mixing Method) và SMW (Soil Mixing Wall).
Năm 1972 công ty Seiko Kogyo của Nhật tiếp tục duy trì và phát triển công nghệ SMW trong thi công tường chắn. Năm 1974 công nghệ DLM (Deep Lime Mixing) đã được hoàn thiện và áp dụng tại Nhật Bản. Cũng trong năm này Thụy Điển đã thử nghiệm cọc có chiều sâu 12m và đường kính 0,5m. Năm 1975 PHRI đã phát triển vượt bậc công nghệ CDM (Cement Deep Mixing) và áp dụng cho các dự án lớn.
Năm 1976 PWRI (Public Works Research Institute) đã đầu tư nghiên cứu công nghệ DJM. Các công nghệ này luôn dược cải tiến và ứng dụng rộng rãi từ năm 1976 đến nay và phần lớn vấn đề nghiên cứu được xuất phát từ người Nhật Bản. Hiện nay, việc sử dụng cọc ximăng – đất để gia cố hố đào được áp dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam là công nghệ DMM (SMW) của Nhật Bản và công nghệ Geomix, công ty Soletanche Bachy, nước Pháp. Công nghệ cọc ximăng - đất DMM (SMW) của Nhật Bản là công nghệ gia cố nền tại chỗ, hỗn hợp vật liệu là sự kết hợp của 3 thành phần chính đất tại chỗ, ximăng, 10 nước và một lượng nhất định phụ gia cần thiết.
Mô phỏng sơ lược thiết bị và quy trình thi công tường cọc ximăng - đất theo công nghệ CDM và SMW: Công nghệ (CDM) Công nghệ SMW Nội dung Cement Deep Mixing Soil Mixing Wall Hình ảnh máy trộn Mô phỏng trạng thái Các cần quay làm đất di Các mũi khoan, các cần khoan làm việc chuyển và bị cắt trộn đều quay tạo ra hỗn hợp đất tại chỗ, tạo ra hỗn hợp đất. kết hợp với ximăng tạo nên bức tường ximăng - đất liên tục. Số cần khoan 2,4,6 hoặc 8 cần khoan. 1,2,3 hoặc 5 cần khoan.
Vật liệu Ximăng hoặc vữa vôi. Vữa ximăng, bùn đất sét và vữa phụ gia cần thiết khác. Loại đất áp dụng Bùn nhão, đất sét mềm, cát Bùn sét mềm cho tới cứng, cát, rời. sỏi sạn, sỏi cuội đá tảng.
11 Phạm vi ứng dụng Phần lớn áp dụng cho các Gia cố hố đào, ngăn dòng mực công trình kè chắn sóng nước ngầm. vùng biển và bờ sông. Quan điểm nhận xét Được phát triển bởi Port và Công ty Seiko Kogyo của Nhật Harbor. Và sau đây là một số hình ảnh trong quá trình thi công theo công nghệ DMM: Hình 1.6 Cần khoan cọc đơn Hình 1.7 Cần khoan 12 Hình 1.8 Thiết bị thi công cọc ximăng - đất.9 Chi tiết cần và lưỡi khoan.10 Tường vây cọc ximăng - đất công trình 145 Phan Chu Trinh tp Vũng Tàu Hình 1.11 Cọc tường vây công trình Sài Gòn Pearl Nguyễn Hữu Cảnh Tp.