Chương 1 CONG TY CO PHAN VÀ VAN DE ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU PHẢN VÓN NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về phần vốn Nhà nước trong công ty cỗ phần 1. Công ty cỗ phan và các van đề về von sở hữu Công ty cổ phan được xem là loại hình công ty đối vốn ra đời đầu tiên trong lịch sử. Pháp luật các nước đã ghi nhận sự ton tại của CTCP từ hàng trăm năm trước.
Ở Việt Nam từ rất sớm đã có những quy định điều chỉnh về loại hình DN này. Luật lệ về công ty lần đầu tiên ở nước ta quy định trong “Bộ Dân luật thi hành tại các toà Nam án Bắc Kỳ”, trong đó tiết thứ 5 (Chương IX) nói về hội buôn được chia thành hai loại là hội người và hội vốn, trong đó hội vốn được chia thành hai loại là hội vô danh (CTCP) và hội hợp cô (Công ty hợp vốn đơn giản). Nhìn chung, quy định của pháp luật thời kỳ này về CTCP còn rất sơ khai. Dưới thời Pháp thuộc, quy định của Bộ luật Thương mại Pháp năm 1807, trong đó có quy định về CTCP được áp dụng ở cả ba kỳ tại Việt Nam.
Tiếp theo đó năm 1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật thương mại Trung phần có hiệu lực áp dụng tại Trung Kỳ, trong đó cũng quy định về CTCP (gọi là công ty vô danh). Đến năm 1972, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành Bộ luật Thương mại, ghi nhận về CTCP với tên gọi là hội nặc danh [35]. Ở miền Bắc, sau năm 1954 cho đến khi thống nhất đất nước năm 1975 và trên phạm vi cả nước từ sau năm 1975 đến những năm 80 của thé ky XX, với chính sách kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các hình thức công ty nói chung và CTCP nói riêng hầu như không được pháp luật thừa nhận. Cho đến khi Luật Công ty được ban hành ngày 21/12/1990, CTCP mới chính thức được quy định cụ thể.
Những quy định về CTCP tiếp tục được bô sung, làm rõ tại Luật Doanh nghiệp năm 1999 và hiện nay là Luật Doanh nghiệp năm 2005. Điều 77 Luật Doanh nghiệp (2005) quy định về CTCP theo hướng liệt kê các đặc điểm của loại hình công ty này, theo đó, CTCP là loại hình 11 DN mà vốn điều lệ được chia thành các phần nhỏ bằng nhau, gọi là cổ phần, người sở hữu cô phan là cổ đông công ty. CTCP có một số đặc điểm sau: - Cổ đông công ty: Hầu hết pháp luật các nước đều quy định số lượng cổ đông tối thiểu mà không giới hạn số lượng cổ đông tối đa trong công ty; cụ thé Pháp, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, v. quy định số lượng cô đông tối thiểu trong CTCP là hai cổ đông.
Tại Việt Nam, theo Luật Công ty (1990), số lượng cô đông tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động của CTCP là bảy, đến Luật Doanh nghiệp (1999) và Luật Doanh nghiệp (2005), con số này giảm xuống là ba cô đông. Cổ đông có thê là tổ chức hoặc cá nhân, không thuộc các trường hợp cắm thành lập, quản lý DN (Khoản 2) hoặc không thuộc trường hợp cắm góp vốn vào DN (Khoản 4 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2005). Đặc điểm này thể hiện đặc trưng cơ bản của CTCP là loại hình công ty đôi vôn nên cân sự liên két của nhiêu cô đông tham gia góp von. - Tư cách pháp lý: CTCP có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN, bình đăng với các loại hình DN khác; đồng thời, nhân danh chính công ty, chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh.
Xuất phát từ sự độc lập của CTCP so với các cổ đông nên CTCP có các quyền và nghĩa vụ về tai sản riêng, do đó các rủi ro của cô đông khi đầu tư vào CTCP chỉ giới hạn trong giá trị cô phần mà cô đông đó nắm giữ. - Vấn đề vốn trong CTCP: Các loại hình công ty nói chung hay CTCP nói riêng không thê được thành lập và hoạt động nếu không có vốn. Vốn là yếu tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như quan hệ với các đối tác bên ngoài. Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồn của quyền lực.
Với đặc trưng là loại hình công ty đối vốn, quyền lực trong CTCP sẽ thuộc về những ai nắm giữ phan lớn số vốn trong công ty. Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của CTCP là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính của công ty. Vốn điều lệ trong CTCP được chia thành các phần bằng nhau, gọi là cổ phần; CTCP bắt buộc phải có cô phần phô thông, ngoài ra, có thé có thêm cổ phan ưu đãi. Trong cau trúc von của CTCP, ngoài vốn điều lệ, trong quá trình kinh doanh, công ty còn được 12 quyền huy động các nguồn vốn khác, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Theo quy định pháp luật thì CTCP ở Việt Nam có thé phát hành nhiều loại cổ phần khác nhau như: cổ phần phổ thông, cổ phan ưu đãi (bao gồm: cô phan ưu đãi biểu quyết, cô phần ưu đãi cô tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, các loại cổ phần ưu đãi khác) và các loại trái phiếu. Đây sẽ là những loại chứng khoán được phát hành rộng rãi ra công chúng nhăm tăng khả năng thu hút vốn dau tư kinh doanh của CTCP. Một đặc trưng khác liên quan đến vốn trong CTCP là khả năng chuyên nhượng vốn linh hoạt, CTCP không phải loại hình công ty “đóng”, do đó, trừ một sỐ trường hợp luật định, vốn trong CTCP được tự do chuyên nhượng, tư cách cô đông công ty cũng dễ dàng phát sinh. Vẫn góp của Nhà nước trong von sở hữu của công ty cổ phan Pháp luật các nước cũng đều ghi nhận sự tham gia của Nhà nước với vai trò là một nhà đầu tư.
Theo số liệu thống kê, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2011, cổ đông lớn nhất trong 150 công ty lớn nhất Trung Quốc vẫn là Chính phủ Trung Quốc, các DN do Nhà nước chi phối chiếm tới 80% tông vốn hóa thị trường cổ phiếu nước này, so với ở Nga và Brazil lần lượt là 62% và 38% (The Economist, 21/1/2012). Tại Việt Nam, kinh tế tư nhân phát triển ngày càng mạnh mẽ song kinh tế Nhà nước van đóng vai trò chủ đạo. Nhà nước tiến hành dau từ góp vốn kinh doanh vì nhiều lý do khác nhau, trong đó chủ yếu vì: - Nhà nước đầu tư vốn vào những ngành nghề cung cấp sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho xã hội như xăng dầu, điện lực, viễn thông, v. - Nhà nước tiến hành đầu tư tại những địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn mà các thành phan kinh tế khác không dau tư, tạo nên các vùng kinh tế lớn, thúc đây kinh tế cả nước tăng trưởng, thúc đây chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hơn.
13 - Nhà nước đầu tư vào những ngành nghề ứng dụng công nghệ cao, tạo nền công nghệ quốc gia tiên tiến và nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm tạo động lực phát triển nhanh cho những ngành, lĩnh vực khác - Nhà nước đầu tư vào những DN có mục đích đặc thù. Tóm lại, việc Nhà nước đầu tư vào DN là vô cùng quan trọng, gắn với chức năng kinh tế của Nhà nước. Đầu tư vốn vào DN không chỉ nhăm tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực của Nhà nước mà đảm bảo cho Nhà nước có thê chi phối được nền kinh tế trong những thời điểm khủng hoảng hay biến động thông qua việc kiểm soát hoặc tác động đến các DN và từ đó đến thị trường. Hơn nữa đầu tư của Nhà nước nhằm cải cách nền kinh tế nói chung, cải cách hành chính nói riêng, hướng đến cải thiện môi trường kinh doanh cho DN.
Doanh nghiệp được Nhà nước đầu tư vốn trở thành những DN có vốn góp Nhà nước. Những DN này được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước có từ hai thành viên trở lên, DN có cổ phan hay vốn góp chi phối của Nhà nước hoặc DN mà Nhà nước đâu tư một phân vôn điêu lệ. Để tham gia vào nền kinh tế và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay, vốn là yêu tố tiên quyết, quan trong hàng đầu đối với bất kỳ một DN nào, trong đó có DN có vốn góp Nhà nước. Đối với những DN có vốn góp Nhà nước, nguồn vốn của DN có thé bao gồm toàn bộ hoặc một phân vôn góp Nhà nước.
Theo Khoản 3 Điều 3 Nghị định 99/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/11/2012 Về phân công, phân cấp thực hiện các quyên, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp (Nghị định 99/2012/NĐ-CP) thì “Vốn góp của Nhà nước là vốn được Nhà nước dau tu vào DN do một cơ quan nhà nước hoặc tổ chức kinh tế được Nhà nước giao làm đại diện chu sở hữu `. 14 Còn theo Khoản 2 Điều 3 Nghị định 71/2013/NĐ-CP về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (Nghị định 71/2013/NĐ-CP) thì ““Von nhà nước tại DN” là vốn đầu tư trực tiếp từ ngân sách nhà nước, các quỹ tập trung của Nhà nước khi thành lập DN và bồ sung trong qua trình hoạt động kinh doanh; các khoản phải nộp ngân sách được trích để lại; nguồn Quỹ dau tr phát triển tại DN; Quỹ hỗ trợ sắp xếp DN; vốn nhà nước được tiếp nhận từ nơi khác chuyển đến; giá trị quyên sử dụng đất, quyên sử dụng tài nguyên Quốc gia được Nhà nước giao và ghi tăng vốn nhà nước cho DN; các tài sản khác theo quy định cua pháp luật được Nhà nước giao cho DN”.