Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Khái niệm GDMT chính thức được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1972, tại Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về Môi trường Nhân văn được tổ chức ở Stockholm , Thụy Điển (Matarasso, 2004). GDMT là quá trình nhận ra các giá trị của môi trường, làm rõ khái niệm để xây dựng những kỹ năng và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người với nền văn hóa và môi trường vật lý xung quanh. GDMT cũng tạo cơ hội cho việc thực hành để ra quyết định và tự hình thành quy tắc ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường (IUCN, 1970).
GDMT là một quá trình phát triển những tình huống dạy/học hiệu quả giúp người dạy và học tham gia giải quyết những vấn đề môi trường liên quan, đồng thời tìm ra một lối sống có trách nhiệm và được thông tin đầy đủ (Wigley, 2000). Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về GDMT, tất cả đều có một số đặc điểm cơ bản sau: - GDMT là một quá trình truyền tải thông tin, kiến thức diễn ra trong một khoảng thời gian, ở nhiều địa điểm khác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và bằng những phương thức khác nhau. - GDMT nhằm thay đổi hành vi - Môi trường học tập là chính môi trường và những vấn đề có trong thực tế. - GDMT liên quan đến việc giải quyết vấn đề và ra quyết định về cách sống.
- Trong GDMT, việc học phải tập trung vào người học và lấy hành động làm cơ sở. c 4 Cộng đồng nói chung thường được hiểu là những nhóm người, được tập hợp dưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp, theo huyết thống, theo khu vực địa lý, theo hệ thống quyền lực, theo tổ chức đoàn thể, theo sở thích,… (Matarasso, 2004). Tuy nhiên, cộng đồng trong đề tài này được xem xét như một đơn vị cấp địa phương của một tổ chức xã hội bao gồm các cá nhân, gia đình, thể chế và các cấu trúc khác đóng góp cho cuộc sống hàng ngày của xã hội, của một nhóm người trong một khu vực địa lý xác định, có thể được biến đổi bởi quá trình vận động lịch sử. Cho đến nay, còn nhiều ý kiến về sự khác nhau giữa GDBT và GDMT.
Nhiều người cho rằng, GDBT và GDMT là 2 khái niệm tương đồng với nhau, có thể thay khái niệm GDBT bằng GDMT và ngược lại. Trong khuôn khổ đề tài, khái niệm GDBT được dùng để chỉ các hoạt động GDMT có sự tham gia của cộng đồng dân địa phương nhằm thay đổi hành vi, hướng tới mục tiêu bảo tồn (Matarasso và cộng sự, 2004). Brewer (2002) đã cho rằng, sự tham gia nên được khuyến khích và trông đợi để thêm vào những câu hỏi, lựa chọn cho những thông tin có giá trị và giới thiệu những kết quả của họ cho những người khác kể cả các nhà khoa học. Bên cạnh đó việc cộng tác với giáo viên và các chuyên gia giúp họ trau dồi rất nhiều về kiến thức chuyên môn trong qúa trình dự án diễn ra và ngay cả trong những hoạt động sau khi dự án kết thúc.
Báo cáo của Richard và Barbara (2001) chỉ ra rằng việc tạo cho người dân cơ hội tiếp cận với kinh nghiệm bảo tồn trên thế giới sẽ đảm bảo chương trình thành công hơn là việc chính phủ và các công ty áp đặt các kế hoạch bảo tồn mà không có sự tham gia của người dân. Kết quả cũng chỉ ra rằng tất cả các chương trình GDBT nên lấy cộng đồng làm trung tâm. Người dân có thể tiếp cận các kiến thức bảo tồn thông qua các phương tiện thông tin đại chúng cũng là một cách hữu ích giúp người dân chủ động tiếp cận với công tác bảo c 5 tồn. Một trong những cơ hội tiếp cận tốt nhất để cộng đồng tích cực tham gia vào công tác bảo tồn đó là để họ tự tiếp cận với các nguồn thông tin, từ đó tiếp cận và bổ sung vào tài liệu những thông tin mà họ cho là cần thiết.
Nghiên cứu về nhận thức của nam và nữ đối với vấn đề môi trường đã được nhiều tác giả nghiên cứu tại nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới, tuy nhiên các kết quả có sự khác biệt: - Engels và Jacobson (2001) khẳng định nhận thức và kiến thức của nam cao hơn nữ ở Braxin nơi có loài linh trưởng Golden Lion – Tamarin sinh sống. Tác giả cho rằng nam giới có nhiều cơ hội tiếp cận về sinh học, bảo tồn nói chung và về loài Sư tử nói riêng hơn nữ giới. - Rajakaruna (2009), đã khẳng định nam giới có nhận thức tốt hơn nữ giới về 5 loài Rùa biển đẻ trứng ở ven bờ biển SriLanka. Nghiên cứu về sự khác nhau trong nhận thức bảo tồn theo các thành phần dân tộc, Onon (2006) cũng mới chỉ ghi nhận có sự khác biệt trong nhận thức và thái độ bảo tồn loài Báo tuyết ở Mông Cổ của 5 cộng đồng người.
Qua đó đưa ra nhận định rằng hiểu biết của các dân tộc về tình trạng và sinh cảnh của chúng ở các mức độ khác nhau là khác nhau, tuy nhiên không lý giải được sự khác biệt này. Nghiên cứu về sự khác nhau trong nhận thức bảo tồn theo trình độ học vấn, Padua (1994) đã chỉ ra rằng có sự khác biệt về nhận thức theo trình độ học vấn. Chương trình GDMT diễn ra với các học sinh từ lớp 5 đến lớp 8, những học sinh lớp 8 có điểm số cao nhất trong các bài kiểm tra. Ở Thái Lan, Wasi (1997) cho rằng lâm nghiệp cộng đồng là một nhân tố trợ giúp cho việc phát triển xã hội dân sự ở Thái Lan.
Các cộng đồng có đòi hỏi rất lớn được tham gia vào quản lý các nguồn tài nguyên địa phương của họ do một diện tích rừng lớn đã bị mất bởi việc khai thác gỗ hợp pháp trong những thập kỷ trước đây. c 6 Tại Srilanka, từ năm 1982 đến 1988 dự án lâm nghiệp cộng đồng do ADB tài trợ của Cục Lâm nghiệp Srilanka đã tạo ra cơ hội tiếp cận kinh nghiệm có người dân tham gia trong quản lý rừng. Tại Việt Nam Theo Vũ Văn Cần (2007) cho biết việc xây dựng kế hoạch quản lý, phát triển rừng phải dựa vào chính nguồn lực của cộng đồng và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, có như vậy người dân địa phương mới thấy kế hoạch đặt ra là vì lợi ích của cộng đồng và từ đó họ mới tích cực tham gia. Người dân tham gia bảo tồn được tạo cơ hội tiếp cận với các phương pháp GDBT mang tính quốc tế kết hợp với các yếu tố địa phương.
Điều này tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với các vấn đề môi trường ở địa phương một cách thuận lợi và thúc đẩy người dân tham gia các chương trình GDBT một cách tích cực. Theo Chương trình UNDP (2007) đã thực hiện trên 23 dự án về mô hình quản lý rừng cộng đồng, kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù luật đã công nhận quyền được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng một cách lâu dài, ổn định. Tuy nhiên luật cũng hạn chế một số quyền với cộng đồng được giao rừng như: không được quyền phân chia lại cho thành viên, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng, cho, thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng rừng. Song trong thực tế muốn thực hiện được quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn khi được giao rừng có hiệu quả phải tiến hành các mô hình thử nghiệm đủ lớn, đủ bao quát sự khác nhau về điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội, truyền thống, tập quán cho các loại cộng đồng dân cư.
Khu BTTN Phong Điền đã mạnh dạn xây dựng thí điểm mô hình làng sinh thái lâm nghiệp tại một số xã vùng đệm của KBT. Kết quả bước đầu rất đáng khích lệ đó là người dân được hưởng quyền lợi về đời sống vật chất và tinh thần, từ đó người dân đã tự giác tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ rừng của KBT. c 7 Nghiên cứu về đánh giá nhận thức và cơ hội tham gia GDBT của cộng đồng: Luận văn Thạc sĩ khoa học lâm nghiệp năm 2010 của Nguyễn Thị Nhài cũng đã đánh giá được nhận thức, cơ hội tham gia GDBT của cộng đồng theo các nhóm đối tượng là học sinh, người dân địa phương sống gần KBT loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca- tỉnh Hà Giang. Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chưa đánh giá được nhận thức, cũng như cơ hội tham gia của nhóm đối tượng rất quan trọng là thợ săn và cán bộ của các cơ quan, tổ chức đóng gần KBT.
Qua đó cũng chưa xây dựng được chương trình GDBT cho các nhóm đối tượng này. Nghiên cứu đề xuất các chương trình GDBT tại KBT loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng: Luận văn Thạc sĩ khoa học lâm nghiệp năm 2012 của Nông Diệu Huế chưa đánh giá được nhận thức, cũng như cơ hội tham gia của nhóm đối tượng rất quan trọng là thợ săn và cán bộ của các cơ quan, tổ chức đóng gần KBT. Đồng thời Luận văn cũng chưa đánh giá được nhận thức bảo tồn của cộng đồng địa phương theo giới, nghề nghiệp, thành phần dân tộc. Qua đó chưa cung cấp đầy đủ cơ sở khoa học để đề xuất các chương trình GDBT tại nơi đây.
Đề tài chưa có sự đánh giá kế thừa những chương trình đã làm có hiệu quả đã có nội dung gì, còn thiếu nội dung gì, các hình thức GDBT như thế đã đủ chưa để tạo cơ sở cho việc đề xuất các chương trình GDBT trong giai đoạn tiếp theo. Các chương trình GDBT được đề xuất mới chủ yếu tập trung vào GDBT về Vượn Cao Vít, còn GDBT về tài nguyên rừng KBT, giá trị đa dạng sinh học và vai trò của KBT chưa được chú trọng. Các chương trình GDBT để thức tỉnh cộng đồng, kêu gọi cộng đồng không vi phạm những hành vi bị cấm và thực hiện những hành động bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường là chưa có. Hơn nữa giải pháp để đảm bảo tính bền vững cho các chương trình GDBT tại nơi đây cũng chưa được tác giả nghiên cứu, đề xuất.