CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG GIAI ĐOẠN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH 1.1 Chính sách tiền tệ 9 1.1 Khái niệm Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng hoặc lãi suất căn cứ vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế, nhằm đạt được các mục tiêu về giá cả, sản lượng và công ăn việc làm 1.2 Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ 1.1 Mục tiêu cuối cùng Ổn định giá cả Ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ và là mục tiêu dài hạn. Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh tế của quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường vĩ mô. Giờ đây NHTW một số nước nhận thấy rõ ràng việc ổn định giá cả hoặc giá trị tiền tệ duy nhất thuộc về chính sách tiền tệ. Các NHTW thường lượng hóa bằng tỷ lệ tăng của chỉ số giá tiêu dùng Việc công bố công khai các chỉ tiêu này là cam kết của NHTW nhằm ổn định giá trị tiền tệ về mặt dài hạn.
Điều này có nghĩa là NHTW sẽ không tập trung điều chỉnh sự biến động giá cả về mặt nắn hạn. Tăng trưởng kinh tế Sự tăng trưởng ở đây phải hiểu cả về khối lượng về chất lượng. Khối lượng là tỷ lệ tăng trưởng năm sau so với năm trước sau khi trừ đi tỷ lệ tăng giá cùng thời kỳ. Chất lượng được biểu hiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và 4 khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước tăng lên.
Một nền kinh tế ổn định vơi tốc độ tăng trưởng bền vững là mục tiêu của bất kỳ chính sách kinh tế vĩ mô nào. Đó là nền tảng cho mọi sự ổn định của một nền kinh tế. Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ Công ăn việc làm đầy đủ có nghĩa là nền kinh tế chỉ tồn tại thất nghiệp tự nhiên. Điều này có nghĩa là nền kinh tế đang hoạt động ở mức độ tiềm năng, mọi nguồn lực của nền kinh tế đã được sử dụng hết và mang lại lợi ích tối đa cho xã hội.
Ngoài ra, chỉ tiêu về thất nghiệp thấp còn đảm bảo sự ổn định trong xã hội khi mọi người đều có một cuộc sống sung túc và ổn định. Xã hội cũng giảm được những khoản chi phí đáng kể như trợ cấp thất nghiệp và sử dụng chúng vào việc nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế. Mâu thuẫn giữa các mục tiêu Thất nghiệp và tăng trưởng hoàn toàn không có mâu thuẫn trong cả ngắn hạn và dài hạn. Thất nghiệp giảm thúc đẩy nền kinh tế phát triển và ngược lại.
Tuy nhiên, thất nghiệp, tăng trưởng và ổn định giá cả lại mâu thuẫn với nhau trong ngắn hạn. Về mặt dài hạn, đường cong Philip trở lên thẳng đứng, ngụ ý không có mâu thuẫn về các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Đường cong Philip trong ngắn hạn lại thể hiện rõ mâu thuẫn giữa các mục tiêu. Giảm lạm phát đồng nghĩa với việc thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất, giảm tổng cầu, thất nghiệp tăng.
Khi phản ứng với các cú sốc cung, để đảm bảo cầu tiền thực tế, Ngân hàn trung ương thường tăng cung tiền và dẫn tới lạm phát tăng. Như vậy, trong ngắn hạn NHTW không thể đạt được tất cả các mục tiêu trên. Về trung dài hạn, họ vẫn coi ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu nhưng trong ngắn hạn đôi khi họ coi giảm thất nghiệp hoặc tăng trưởng là mục tiêu 5 số một.2 Mục tiêu trung gian NHTW không thể tác động trực tiếp tới các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế được. Ngoài ra, độ trễ của chính sách tiền tệ thường vào khoảng 6-24 tháng.
Để khắc phục được hạn chế đó, NHTW thường xác định các mục tiêu đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng, đó là mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động. Mục tiêu trung gian là các chỉ tiêu được NHTW lựa chọn để đạt được mục đích cuối cùng của chính sách tiền tệ. Các chỉ tiêu thường dùng là khối lượng tiền cung ứng (thường là M2) hoặc mức lãi suất (ngắn và dài hạn). Đây là những mục tiêu đảm bảo được các tiêu chuẩn: có thể đo lường được, có thể kiểm soát được, có mối liên hệ chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng.
Sự lựa chọn lãi suất hay lượng tiền cung ứng làm mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ phụ thuộc vào mức biến động tương đối của nhu cầu tiền tệ so với hàng hóa. Khi nhu cầu hàng hóa biến động bất thường, NHTW thường chọn tổng lượng tiền cung ứng làm mục tiêu trung gian. Khi cầu tiền biến động mạnh, lãi suất thường được lựa chọn.3 Chỉ tiêu hoạt động Chỉ tiêu hoạt động là những chỉ tiêu có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh của công cụ chính sách tiền tệ. Các tiêu chuẩn chọn lựa chỉ tiêu hoạt động cũng tương tự như mục tiêu trung gian.
Lãi suất liên ngân hàng:Căn cứ vào mức cung và cầu tiền của nền kinh tế, một mức lãi suất liên ngân hàng phù hợp sẽ được tính toán và áp dụng. Với điều kiện cầu tiền ổn định, việc khống chế lãi suất sẽ đạt được mức cung tiền mục tiêu. Dự trữ không vay: Chỉ tiêu này được căn cứ vào cơ chế tạo tiền của hệ 6 thống ngân hàng và tổng lượng tiền cung ứng làm mục tiêu (thể hiện trong công thức MS=m x MB). Mục tiêu tức thời của chính sách tiền tệ là lượng dự trữ không vay mà NHTW có thể chi phối thông qua nghiệp vụ thị trường mở.
Dự trữ đi vay: Căn cứ của chỉ tiêu này cũng giống như dự trữ không vay. Tuy nhiên, mục tiêu hoạt động này có tác dụng làm giảm nhẹ sự biến động của mức lãi suất. Khi lãi suất cho vay của hệ thống Ngân hàng tăng, nhu cầu vay của NHTM đối với NHTW tăng và thúc đẩy nhu cầu bổ sung vốn từ NHTW. Điều này làm cho mức dự trữ đi vay vượt mức mục tiêu và buộc NHTW phải tăng thêm mức dự trữ không vay thông qua nghiệp vụ thị trường mở.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ - Công cụ trực tiếp Công cụ trực tiếp là hệ thống các quy định mà NHTW có thể sử dụng để tác động thẳng vào lượng tiền rộng của nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Các công cụ trực tiếp thường được sử dụng là hạn mức tín dụng hoặc mức lãi suất ấn định. Các công cụ này thường có hiệu quả ngay và mạnh vào thị trường tài chính. Các công cụ này thường thích hợp với một nền kinh tế mà thị trường tài chính chưa phát triển hoặc có mức lạm phát cao. Bất lợi của việc sử dụng các công cụ này là thiếu tính linh hoạt và không chủ động trong điều hành chính sách tiền tệ bởi lượng tiền rộng không phản ánh chính sách tiền tệ hàng ngày.
Ngoài ra, công cụ hành chính thường thiếu mềm dẻo và dễ gây ra các cú sốc cho nền kinh tế. Hơn nữa, các trung gian tài chính chịu sự tác động của các công cụ này về lâu dài sẽ sử dụng các kỹ thuật để “lách luật” và có thể làm méo mó thông tin thị trường và hiệu quả của chính sách. Công cụ lãi suất: Công cụ lãi suất là việc quy định giới hạn giao động 7 các mức lãi suất của các TCTD. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới lãi suất thị trường.
Khung lãi suất bao gồm lãi suất trần (mức lãi suất tối đa mà các TCTD được áp dụng khi cho vay) và lãi suất sàn (mức lãi suất tối đa mà các TCTD áp dụng khi đi vay). Hạn mức tín dụng: Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà mỗi TCTD được phép duy trì theo quy định của NHTW theo từng thời kỳ. Hạn mức tín dụng cho các TCTD là khác nhau, phụ thuộc vào đặc thù và năng lực kinh doanh của các TCTD và mức tổng dư nợ tín dụng dự tính của NHTW cho toàn bộ nền kinh tế. - Công cụ gián tiếp Công cụ gián tiếp là hệ thống các quy định của NHTW nhằm tác động thường xuyên đến lượng vốn khả dụng và hệ số tạo tiền gửi của hệ thống ngân hàng thông qua cơ chế thị trường trên cơ sở dự đoán được những biến động về cung, cầu vốn khả dụng.
Với các công cụ này, NHTW có thể chủ động điều tiết dự trữ của hệ thống ngân hàng mỗi ngày. Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển và thống nhất – mối liên hệ chặt chẽ giữa lãi suất và lượng cung tiền, hiệu quả của các công cụ này sẽ phát sinh tối đa. Dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dung phải duy trì trên tài khoản tiền gửi tại NHTW, được xác định bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc trên tổng số dư tiền gửi trong một khoảng thời gian nhất định. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định khác nhau cho các thời hạn tiền gửi, quy mô và tính chất hoạt động của NHTM.
Chính sách chiết khấu: Chính sách chiết khấu thể hiện bằng quy chế cho vay của NHTW đối với các tổ chức tài chính. Quy chế bao gồm những nội dung về điều kiện cho vay ngắn hạn dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá của TCTD. Thông thường, NHTW điều hành chính sách này thông qua 8 hạn mức chiết khấu và lãi suất chiết khấu. Nghiệp vụ thị trường mở: Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ NHTW mua bán các chứng từ có giá với các đối tắc được lựa chọn nhằm tác động đến mức cung vốn khả dụng của các TCTD.2 Chính sách tiền tệ trong khủng hoảng tài chính 1.2 Khủng hoảng tài chính 1.1 Khủng hoảng tài chính Khủng hoảng tài chính được hiểu là sự sụp đổ của thị trường tài chính, khiến cho nó không thể thực hiện được hai chức năng cơ bản nhất: (1) ổn định giá trị đồng tiền hoặc các tài sản tài chính như một phương tiện giao dịch, cất trữ tài sản, và (2) là trung gian chuyển vốn tiết kiệm vào những dự án đầu tư có hiệu quả nhất.
Hệ quả là nền kinh tế bị đẩy ra khỏi quỹ đạo tăng trưởng tiềm năng, gây nên sự sụt giảm mạnh về sản lượng, việc làm, đi kèm với giảm phát, hoặc gây nguy cơ bùng nổ lạm phát.