Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh đóng vai trò tạo động lực cho các chủ thể kinh doanh tối ưu hóa chi phí, nâng cao chất lượng và tìm kiếm lợi thế để tồn tại. Tuy nhiên, trước áp lực cạnh tranh gay gắt, nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn phương thức cấu kết, hình thành các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT - cartel) nhằm ấn định giá, phân chia thị trường hoặc hạn chế sản lượng. Đây là dạng hành vi gây nguy hại nghiêm trọng nhất đến môi trường kinh doanh, dẫn tới tình trạng độc quyền hóa và triệt tiêu động lực vận động khách quan của thị trường.

Thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh quốc tế cho thấy việc phát hiện và thu thập chứng cứ để xử lý TTHCCT gặp nhiều trở ngại do thủ đoạn của các bên tham gia ngày càng tinh vi, có xu hướng ngầm hóa và xóa dấu vết vi phạm. Theo số liệu khảo sát của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) năm 2017, chính sách khoan hồng (CSKH) được ghi nhận là công cụ phát hiện TTHCCT hiệu quả nhất, giúp làm sáng tỏ trên 90% số vụ việc, đặc biệt là các thỏa thuận có yếu tố xuyên biên giới. Tại Việt Nam, Luật Cạnh tranh năm 2004 chưa quy định chế định này mà chỉ có các quy định giảm nhẹ xử phạt chung chung, dẫn đến hiệu lực phát hiện hành vi TTHCCT từ bên trong còn hạn chế. Do đó, việc Luật Cạnh tranh năm 2018 chính thức bổ sung quy định về CSKH tại Điều 112 đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và đánh giá các khoảng trống pháp lý để hoàn thiện cơ chế thực thi.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Phân tích các vấn đề lý luận cơ bản về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và chính sách khoan hồng trong pháp luật cạnh tranh, trọng tâm là việc ứng dụng lý thuyết trò chơi vào việc thiết kế chính sách.
  2. Rà soát, phân tích thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về CSKH theo Luật Cạnh tranh năm 2018, đồng thời so sánh, đối chiếu với khung pháp lý của một số quốc gia và vùng lãnh thổ tiêu biểu (Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu - EU, Nhật Bản, Ý, Ba Lan, Ireland).
  3. Đánh giá những hạn chế, điểm nghẽn pháp lý và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi CSKH trong xử lý TTHCCT tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh chính sách khoan hồng trong xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh năm 2018, các văn bản hướng dẫn thi hành, các quy định pháp luật nước ngoài có liên quan và thực tiễn áp dụng các quy định này. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào pháp luật Việt Nam đặt trong mối tương quan so sánh với pháp luật của Hoa Kỳ, EU và một số nước phát triển; phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn từ khi Luật Cạnh tranh năm 2018 có hiệu lực đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế học pháp luật, trọng tâm là Lý thuyết trò chơi (Game Theory) được phát triển bởi John von Neumann, Oskar Morgenstern (tác phẩm Theory of Games and Economic Behavior năm 1944) và John Nash. Mô hình được ứng dụng trực tiếp là "Tình thế lưỡng nan của hai tù nhân" (Prisoner's Dilemma) để giải thích hành vi chiến lược của các chủ thể tham gia liên minh độc quyền khi đứng trước các lựa chọn: tiếp tục duy trì thỏa thuận (bị áp đảo) hoặc chủ động khai báo để hưởng miễn trừ (chiến lược áp đảo - dominant strategy). Khóa luận cũng áp dụng nguyên lý chính sách "Cây gậy và Củ cà rốt" (Carrot and Stick approach) của Vụ Chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (AD - Antitrust Division).

Hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ phân tích bao gồm:

  • Pháp luật Việt Nam: Luật Cạnh tranh năm 2018 (đặc biệt là Điều 3, Điều 11, Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 112); Nghị định số 35/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh; Nghị định số 75/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh; Nghị định số 116/2005/NĐ-CP; Nghị định số 71/2014/NĐ-CP; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với các quy định tại Điều 51 và Điều 217.
  • Pháp luật quốc tế: Đạo luật Chống độc quyền Hoa Kỳ (Sherman Act) cùng các chương trình Corporate Leniency Policy, Individual Leniency Policy; Điều 81 Hiệp ước Rome và Điều 101 Hiệp ước về Chức năng của Liên minh Châu Âu (TFEU); Chỉ thị ECN+ của EU; các án lệ của Tòa án Công lý Liên minh châu Âu (CJEU); quy định của Cơ quan Cạnh tranh Ý (ICA) và Ủy ban Thương mại Công bằng Nhật Bản.

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dùng để phân tích từng điều khoản pháp luật, mổ xẻ các yếu tố cấu thành hành vi vi phạm, điều kiện áp dụng khoan hồng và tổng hợp thành bức tranh toàn diện về chế định.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 với Luật Cạnh tranh năm 2004; so sánh quy định của Việt Nam với các hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Ý nhằm rút ra những điểm tương đồng, dị biệt và bài học lập pháp.
  • Phương pháp hệ thống hóa: Phân loại, sắp xếp các nhóm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các mức miễn giảm tiền phạt và trình tự thủ tục tố tụng cạnh tranh theo cấu trúc logic.
  • Phương pháp liệt kê: Dẫn chiếu các quy định pháp luật, các dạng thức hành vi và trích dẫn các tài liệu khảo sát của OECD, các công trình học thuật trong nước để củng cố luận cứ nghiên cứu.

Nguồn dữ liệu của khóa luận được thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, các báo cáo chuyên đề của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (và Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng trước đây), các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả Phạm Hoài Tuấn (2019), Trần Ngọc Hiếu (2019), Trần Thị Nguyệt (2021), Nguyễn Anh Tuấn (2021), Hoàng Trần Bửu (2016), Trần Hải Thịnh (2017), Nguyễn Thị Phương Hà (2019), và các dữ liệu khảo sát từ OECD.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Lý luận chung về CSKH trong pháp luật chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Chương 1 làm rõ các khái niệm và cơ sở khoa học của hành vi TTHCCT cùng chế định CSKH. Tác giả chỉ ra 5 đặc trưng pháp lý cơ bản của TTHCCT:

  • Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp (tổ chức, cá nhân kinh doanh độc lập).
  • Có sự thống nhất ý chí giữa các bên dưới dạng đàm phán trực tiếp hoặc thông qua các nghị quyết, quyết định của hiệp hội ngành nghề.
  • Mục đích nhắm tới là hạn chế cạnh tranh, kiểm soát các yếu tố thị trường.
  • Biểu hiện dưới nhiều hình thức đa dạng (văn bản, lời nói, thỏa thuận ngầm).
  • Hậu quả làm giảm, sai lệch hoặc triệt tiêu cạnh tranh (xét theo yếu tố cấu thành hình thức, không bắt buộc hậu quả phải xảy ra trên thực tế mới cấu thành vi phạm).

Căn cứ Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018, tác giả phân loại 11 nhóm hành vi TTHCCT điển hình. Theo Điều 12, luật phân định ranh giới giữa hai nhóm kiểm soát:

  1. Các thỏa thuận bị cấm tuyệt đối: Áp dụng nguyên tắc mặc nhiên cấm (per se illegal), bao gồm thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường/khách hàng, hạn chế sản lượng giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan (khoản 1, 2, 3 Điều 11) và các hành vi thông đồng đấu thầu, ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia thị trường, loại bỏ doanh nghiệp ngoài thỏa thuận (khoản 4, 5, 6 Điều 11 không phân biệt cùng hay khác thị trường liên quan).
  2. Các thỏa thuận bị cấm có điều kiện: Căn cứ vào việc đánh giá thỏa thuận có gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể hay không. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thực hiện đánh giá dựa trên 6 tiêu chí quy định tại Điều 13 Luật Cạnh tranh năm 2018 và Điều 11 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP: mức thị phần; rào cản gia nhập/mở rộng thị trường; hạn chế đổi mới công nghệ; giảm tiếp cận hạ tầng thiết yếu; tăng chi phí/thời gian của khách hàng; kiểm soát các yếu tố đặc thù ngành. Đồng thời, Nghị định số 35/2020/NĐ-CP cũng quy định ngưỡng an toàn (thỏa thuận không gây tác động đáng kể) khi thị phần kết hợp của các bên nhỏ hơn 5% (thỏa thuận cùng thị trường liên quan) hoặc thị phần của từng bên nhỏ hơn 15% (thỏa thuận ở các công đoạn khác nhau trong chuỗi cung ứng).

Về CSKH, tác giả phân tích bản chất đây là cơ chế pháp lý miễn hoặc giảm chế tài cho thành viên cartel tự nguyện trình báo và cung cấp chứng cứ phục vụ điều tra. Lý giải nguyên lý hình thành, tác giả chứng minh TTHCCT là một liên minh lỏng lẻo thiếu sự bảo đảm của pháp luật, các bên luôn tồn tại sự nghi ngờ về việc phân chia lợi ích không đồng đều hoặc lo sợ đối phương khai báo trước. Bằng việc phân tích ma trận 2x2 của mô hình tình thế lưỡng nan tù nhân:

Lựa chọn của Bên A \ Bên B Bên B Tố cáo (Hợp tác với cơ quan điều tra) Bên B Im lặng (Duy trì thỏa thuận)
Bên A Tố cáo A: 5 năm tù / B: 5 năm tù A: 1 năm tù / B: 10 năm tù
Bên A Im lặng A: 10 năm tù / B: 1 năm tù A: 2 năm tù / B: 2 năm tù

Phân tích ma trận chứng minh rằng chiến lược tố cáo là chiến lược áp đảo tối ưu cho từng bên. Khi CSKH đưa vào yếu tố ưu tiên theo thứ tự thời gian nộp đơn và bảo đảm bí mật thông tin, nó tạo ra "cuộc đua đầu thú" (race to the courthouse), phá vỡ thế cân bằng ngầm của cartel từ bên trong, giúp cơ quan quản lý tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí điều tra.

CHƯƠNG 2: Thực trạng các quy định pháp luật về CSKH trong xử lý các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng khung pháp lý Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế. Về trình tự giải quyết vụ việc TTHCCT theo Luật Cạnh tranh năm 2018:

  • Thụ lý vụ việc: Thời hiệu khiếu nại hoặc tự phát hiện là 03 năm kể từ ngày hành vi được thực hiện.
  • Quy trình điều tra: Thời hạn điều tra là 09 tháng, có thể gia hạn 01 lần nhưng không quá 03 tháng. Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định điều tra, điều tra viên có quyền lấy lời khai, triệu tập người làm chứng, áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính. Trường hợp phát hiện dấu hiệu tội phạm theo Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015, hồ sơ phải được chuyển cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
  • Xử lý vụ việc: Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra, Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thành lập Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh để mở phiên điều trần và ra quyết định xử phạt.
  • Chế tài: Phạt tiền từ 01% đến 10% hoặc từ 01% đến 05% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm vi phạm; kèm theo các biện pháp khắc phục hậu quả (loại bỏ điều khoản vi phạm) và tịch thu lợi nhuận bất hợp pháp.

Trước Luật Cạnh tranh năm 2018, Nghị định số 116/2005/NĐ-CP và Nghị định số 71/2014/NĐ-CP chỉ quy định mức giảm 15% tiền phạt cho mỗi tình tiết giảm nhẹ thông thường, không tạo được động lực cho doanh nghiệp khai báo. Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018 đã tạo khung pháp lý mới với các nội dung trọng tâm:

  • Đối tượng: Chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp (tổ chức, cá nhân kinh doanh), không áp dụng cho cá nhân là nhà quản lý, nhân viên trong doanh nghiệp.
  • Điều kiện hưởng: Phải là một bên tham gia thỏa thuận; không phải là chủ thể tổ chức hoặc ép buộc doanh nghiệp khác tham gia; phải tự nguyện khai báo trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra; khai báo trung thực, cung cấp toàn bộ thông tin, chứng cứ có giá trị đáng kể; hợp tác đầy đủ trong suốt quá trình điều tra, xử lý.
  • Số lượng và mức giảm: Tối đa 03 doanh nghiệp đầu tiên đáp ứng đủ điều kiện. Doanh nghiệp thứ nhất được miễn 100% mức phạt tiền; doanh nghiệp thứ hai được giảm 60%; doanh nghiệp thứ ba được giảm 40%.

So sánh với pháp luật quốc tế, tác giả chỉ ra các điểm khác biệt then chốt:

  • Hoa Kỳ: Phân chia chính sách cho Doanh nghiệp (Corporate Leniency) và Cá nhân (Individual Leniency). Phân loại thành Khoan hồng Loại A (khi chưa mở cuộc điều tra) và Loại B (sau khi đã mở điều tra nhưng chưa có đủ chứng cứ). Áp dụng nguyên tắc chỉ dành cho 01 đối tượng duy nhất được miễn trách nhiệm hình sự hoàn toàn ("tất cả hoặc không có gì").
  • Liên minh Châu Âu (EU): Cho phép giảm tiền phạt theo các khung bậc cho các doanh nghiệp nộp đơn tiếp theo dựa trên giá trị gia tăng của chứng cứ cung cấp.
  • Nhật Bản, Ý, Ba Lan, Ireland: Nhật Bản cho phép tối đa 5 doanh nghiệp; Ý (ICA) miễn 100% cho đơn vị đầu tiên và giảm tối đa 50% cho các đơn vị sau; Ba Lan và Ireland mở rộng quyền xin miễn trừ độc lập cho các cá nhân quản lý và người lao động.

CHƯƠNG 3: Thực trạng thực thi và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về CSKH trong xử lý hành vi TTHCCT ở Việt Nam

Chương 3 chỉ ra các hạn chế trong quy định hiện hành và đề xuất giải pháp. Các hạn chế được xác định gồm:

  1. Giới hạn thời điểm khai báo: Việc Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định doanh nghiệp chỉ được hưởng CSKH "trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra" làm mất đi cơ hội hợp tác của các doanh nghiệp sau khi cuộc điều tra đã bắt đầu, làm giảm tính linh hoạt so với cơ chế Khoan hồng Loại B của Hoa Kỳ.
  2. Bỏ sót đối tượng cá nhân: Luật Cạnh tranh năm 2018 chưa quy định CSKH cho cá nhân là người quản lý, người lao động trực tiếp nắm giữ chứng cứ, dẫn đến việc thiếu cơ chế bảo vệ và không kích thích được sự chủ động khai báo từ nội bộ nhân sự doanh nghiệp.
  3. Tiêu chí xác định thời điểm và giá trị chứng cứ còn mờ nhạt: Chưa có văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể về quy trình nộp đơn (đánh dấu mốc thời gian - marker system), hình thức nộp đơn (bằng văn bản hay lời nói) và tiêu chí định lượng thế nào là "chứng cứ có giá trị đáng kể".
  4. Mối quan hệ giữa tố tụng cạnh tranh và tố tụng hình sự: Chưa có cơ chế bảo đảm rằng doanh nghiệp/cá nhân được hưởng khoan hồng hành chính tại Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sẽ được tự động miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng theo Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Từ đó, tác giả đưa ra hai nhóm kiến nghị:

  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Bổ sung quy định cho phép áp dụng CSKH ở giai đoạn sau khi đã có quyết định điều tra (kèm điều kiện chứng cứ cung cấp phải mang lại giá trị gia tăng đáng kể).
    • Mở rộng đối tượng áp dụng CSKH đối với các cá nhân là người quản lý, người lao động của doanh nghiệp vi phạm.
    • Ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết quy trình tiếp nhận đơn xin hưởng khoan hồng, thiết lập cơ chế cấp "phiếu ưu tiên nộp đơn" (marker), quy định rõ các tiêu chuẩn đánh giá giá trị chứng cứ và biện pháp bảo mật thông tin người khai báo.
    • Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia và Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để đồng bộ hóa việc miễn giảm trách nhiệm.
  • Nhóm kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Tăng cường năng lực chuyên môn, nghiệp vụ điều tra cho đội ngũ điều tra viên cạnh tranh.
    • Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về lợi ích của CSKH.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 và đối chiếu với pháp luật quốc tế qua bảng tổng hợp sau:

Tiêu chí phân tích Pháp luật Việt Nam (LCT 2018) Pháp luật Hoa Kỳ Pháp luật EU / Một số quốc gia khác
Đối tượng áp dụng Doanh nghiệp (tổ chức, cá nhân kinh doanh) Doanh nghiệp và Cá nhân (chính sách độc lập) Doanh nghiệp (EU); mở rộng cho cá nhân quản lý (Ba Lan, Ireland)
Thời điểm khai báo Duy nhất trước khi có quyết định điều tra Trước khi điều tra (Loại A) hoặc Sau khi đã mở điều tra (Loại B) Trước hoặc trong quá trình điều tra
Số lượng thụ hưởng Tối đa 03 doanh nghiệp đầu tiên Duy nhất 01 doanh nghiệp nộp đơn hợp lệ đầu tiên Nhiều doanh nghiệp; Nhật Bản tối đa 5 doanh nghiệp
Mức độ miễn giảm Doanh nghiệp 1: 100%
Doanh nghiệp 2: 60%
Doanh nghiệp 3: 40%
Miễn 100% trách nhiệm hình sự cho đối tượng hợp lệ Miễn 100% cho đơn vị đầu tiên; các đơn vị sau giảm theo khung bậc (Ý: tối đa 50%)
Chế tài xử phạt TTHCCT Phạt tiền 01% - 10% hoặc 01% - 05% tổng doanh thu liên quan Xử phạt hình sự nghiêm khắc (phạt tù cá nhân, phạt tiền rất lớn) Phạt tiền lên tới 10% tổng doanh thu toàn cầu

Các giải pháp do tác giả đề xuất tập trung vào việc sửa đổi các quy định còn bất cập tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018 và kiến nghị xây dựng nghị định hướng dẫn chuyên sâu về CSKH. Đóng góp nổi bật của khóa luận so với các nghiên cứu giai đoạn 2016-2019 là đã đánh giá trực diện quy định thực định của Luật Cạnh tranh năm 2018 sau khi có hiệu lực, chỉ ra các khoảng trống lập pháp xuất hiện trong giai đoạn vận hành thực tế đến năm 2023 thay vì chỉ dừng lại ở phân tích lý luận hay đề xuất mang tính dự thảo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong giai đoạn hệ thống cơ quan quản lý cạnh tranh theo mô hình mới (Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia) đang trong quá trình kiện toàn tổ chức, số lượng vụ việc TTHCCT được xử lý thực tế theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu tập trung chủ yếu vào phân tích lý thuyết, đối chiếu quy phạm pháp luật thực định và kinh nghiệm quốc tế, chưa có điều kiện phân tích sâu các hồ sơ vụ việc thực tế áp dụng Điều 112 tại Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài là theo dõi, khảo sát và đánh giá thực tiễn thụ lý đơn xin hưởng khoan hồng của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trong các vụ việc cụ thể khi cơ quan này đi vào vận hành toàn diện; đồng thời nghiên cứu sâu hơn về tác động tương hỗ giữa cơ chế xử phạt vi phạm hành chính trong cạnh tranh và chế tài hình sự theo Điều 217 Bộ luật Hình sự.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cao đối với:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Luật học, đặc biệt là chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế và Pháp luật Cạnh tranh.
  • Cán bộ làm công tác quản lý, điều tra tại Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan tư pháp trong việc nghiên cứu hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật dưới luật.
  • Đội ngũ luật sư, chuyên viên tư vấn pháp lý doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược tuân thủ pháp luật cạnh tranh và xử lý các tình huống pháp lý khi phát sinh rủi ro tham gia TTHCCT.

Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật nhất trong khóa luận là phần phân tích ứng dụng Lý thuyết trò chơi vào việc thiết kế chính sách cạnh tranh (Chương 1) và phần so sánh đối chiếu đa chiều giữa cơ chế khoan hồng của Việt Nam với Hoa Kỳ và EU (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên lý lý thuyết trò chơi được ứng dụng như thế nào trong việc xây dựng chính sách khoan hồng chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh?
Chính sách khoan hồng ứng dụng mô hình Tình thế lưỡng nan của tù nhân (Prisoner's Dilemma). Bằng cách đặt các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận vào tình thế không thể liên lạc, phối hợp ứng phó khi bị điều tra và thiết lập cơ chế miễn giảm phạt theo thứ tự nộp đơn, chính sách biến việc chủ động tố cáo trở thành "chiến lược áp đảo" (mang lại kết quả tối ưu hơn việc im lặng chịu rủi ro bị đối tác khai báo trước), từ đó phá vỡ sự thống nhất ý chí của cartel từ bên trong.

2. Điều kiện để một doanh nghiệp được hưởng chính sách khoan hồng theo Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018 là gì?
Doanh nghiệp phải đáp ứng đủ 4 điều kiện: (i) Đã hoặc đang tham gia thỏa thuận với tư cách là một bên và không giữ vai trò tổ chức hoặc ép buộc doanh nghiệp khác tham gia; (ii) Tự nguyện khai báo hành vi vi phạm trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra; (iii) Khai báo trung thực và cung cấp toàn bộ thông tin, chứng cứ có được, có giá trị đáng kể cho việc phát hiện, điều tra, xử lý; (iv) Hợp tác đầy đủ với cơ quan có thẩm quyền trong suốt quá trình điều tra và xử lý.

3. Số lượng doanh nghiệp và mức độ miễn giảm tiền phạt theo chính sách khoan hồng tại Việt Nam được quy định như thế nào?
Chính sách khoan hồng áp dụng cho không quá 03 doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn và đáp ứng đủ điều kiện. Mức độ miễn giảm phạt tiền được xác định theo thứ tự: Doanh nghiệp đầu tiên được miễn 100% mức phạt tiền; doanh nghiệp thứ hai được giảm 60%; doanh nghiệp thứ ba được giảm 40%.

4. Điểm khác biệt căn bản về đối tượng thụ hưởng chính sách khoan hồng giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ là gì?
Theo Luật Cạnh tranh năm 2018 của Việt Nam, đối tượng được hưởng chính sách khoan hồng chỉ giới hạn ở pháp nhân thương mại/doanh nghiệp, không áp dụng cho cá nhân. Ngược lại, pháp luật Hoa Kỳ ban hành hai chính sách song song cho cả Doanh nghiệp (Corporate Leniency Policy) và Cá nhân (Individual Leniency Policy), cho phép người quản lý hoặc nhân viên có quyền nộp đơn độc lập nhân danh cá nhân mình để được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.

5. Những trường hợp nào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được coi là không gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể theo Nghị định số 35/2020/NĐ-CP?
Căn cứ khoản 3 Điều 11 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP, thỏa thuận được coi là không gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể nếu: (i) Đối với thỏa thuận giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan, thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia nhỏ hơn 5%; (ii) Đối với thỏa thuận giữa các doanh nghiệp ở các công đoạn khác nhau trong chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng, thị phần của từng doanh nghiệp tham gia nhỏ hơn 15%.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đặng Thị Hồng Ngân đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và chính sách khoan hồng dựa trên nền tảng kinh tế học pháp luật và lý thuyết trò chơi. Công trình đã phân tích chi tiết thực trạng các quy định tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, đồng thời so sánh sâu sắc với khung pháp lý của Hoa Kỳ, EU và các quốc gia phát triển. Các phát hiện về hạn chế về thời điểm nộp đơn, đối tượng áp dụng và khoảng trống quy định dưới luật là cơ sở thực tiễn vững chắc cho hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam.