CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CSKH TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH 1.1 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 1.1 Khái niệm Hành vi TTHCCT được xét dưới nhiều góc độ như sau: Trong kinh tế học, hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh (Cartel) được nhìn nhận là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh. Từ điển Chính sách thương mại quốc tế định nghĩa Cartel là một thỏa thuận chính thức hoặc không chính thức để đạt được kết quả có lợi cho các hàng hóa có liên quan, nhưng có thể có hại cho các bên khác. Những kết quả này có thể bao gồm việc giảm bớt cạnh tranh giữa các hãng, thỏa thuận không cạnh tranh về giá, giới hạn sản lượng đầu ra của các hãng thành viên, thỏa thuận chia sẻ thị trường… Có rất nhiều loại cartel nhưng tất cả đều nhằm giảm sản lượng và tăng giá bằng cách loại trừ cạnh tranh giữa các bên tham gia thỏa thuận2 Theo Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định: “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh.” Trên thực tế, thoả thuận giữa các doanh nghiệp có thể diễn ra ở nhiều giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối. Do đó, tồn tại nhiều biểu hiện khác nhau của TTHCCT: các thỏa thuận giữa những người bán với nhau (ví dụ như thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận phân chia thị trường.); thỏa thuận giữa những người mua; thỏa thuận trong đấu thầu.
TTHCCT có thể diễn ra giữa các doanh nghiệp thuộc 2 ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân, (2011), “Cạnh tranh và các dạng thức thỏa thuận hạn chế cạnh tranh”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11(196) 7 những khâu khác nhau của quá trình kinh doanh. Có thể phân chia thành 2 loại chủ yếu: TTHCCT theo chiều ngang và TTHCCT theo chiều dọc. Thực tế tại một số nước, các thỏa thuận cartel được xem là bất hợp pháp bất kể hệ quả của nó như thế nào, ví dụ như tại Hoa Kỳ, người kiện chỉ cần chứng minh rằng đã có sự thỏa thuận và sự thỏa thuận có thể mang tính phản cạnh tranh.
Ở Châu Âu, các thỏa thuận cartel khi vi phạm Điều 81 Hiệp ước Rome sẽ bị phạt rất nặng nếu mục tiêu hay tác động của chúng là ngăn ngừa, hạn chế hoặc bóp méo cạnh tranh. Tại Anh, các thỏa thuận phải được đăng ký và các thỏa thuận cartel thì không được phép.2 Các đặc trưng của TTHCCT Các hành vi TTHCCT có những đặc trưng riêng biệt để nhận dạng và phân biệt với các hành vi cạnh tranh khác. Bao gồm các đặc trưng sau đây: Thứ nhất, TTHCCT là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp là chủ thể trong quan hệ TTHCCT.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Cạnh tranh năm 2018, doanh nghiệp được hiểu là các tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam. Doanh nghiệp là chủ thể tạo nên và quyết định mức độ cũng như hình thức của cạnh tranh. Đồng thời, doanh nghiệp cũng chính là chủ thể gây hạn chế, giảm bớt hay triệt tiêu cạnh tranh do chính mình đã tạo ra bằng các thỏa thuận. Các TTHCCT có thể là giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau hoặc có thể là giữa các doanh nghiệp có mối liên hệ với nhau trong cùng một chuỗi sản xuất hay cung ứng sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa.
Thứ hai, TTHCCT thể hiện sự thống nhất ý chí của các doanh nghiệp. Thỏa thuận là đặc trưng pháp lý cơ bản nhất và là yếu tố cấu thành hành vi TTHCCT. Trong TTHCCT đòi hỏi phải có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên trong quan hệ thỏa thuận, cùng chung mục đích hướng tới là hạn chế cạnh tranh trong cuộc 8 chiến kinh doanh. Do đó, TTHCCT là kết quả của quá trình đàm phán, thương lượng giữa các bên tham gia với nhau liên quan đến một hoặc một số nội dung hay yếu tố nào đó của thị trường.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp các bên không trực tiếp đàm phán, thỏa thuận với nhau mà gián tiếp đạt được sự TTHCCT thông qua các nghị quyết, quyết định hay hành động chung của Hiệp hội mà các bên là thành viên. Sở dĩ có trường hợp này là do khi các doanh nghiệp tham gia và trở thành thành viên của các hiệp hội, tự nguyện chấp nhận hay đồng ý theo những cam kết hay chủ trương chung của hiệp hội, chấp nhận cho phép hiệp hội được đưa ra nghị quyết, quyết định hoặc hành động chung và bản thân các doanh nghiệp tuân thủ theo thì đó cũng là một sự thỏa thuận giữa các thành viên của hiệp hội đã đạt được. Hình thức thỏa thuận như vậy gần như mang tính chất ủy quyền quyết định cho Hiệp hội mà doanh nghiệp là thành viên. Khi đó, Hiệp hội bị giàng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý với các thành viên.
Ngoài ra, TTHCCT còn có biểu hiện dưới dạng các cam kết tuân thủ hay đáp ứng những yêu cầu do một hoặc một số bên đặt ra. Trên thực tế, có trường hợp các doanh nghiệp thực hiện các hành vi giống nhau nhưng không vì thế mà có thể kết luận giữa các doanh nghiệp có sự thỏa thuận. Nó có thể là sự trùng hợp trên cơ sở tính toán và đưa ra các quyết định độc lập của các doanh nghiệp. Để chứng minh tồn tạị TTHCCT cần có các thông tin, chứng cứ cho thấy rằng giữa các doanh nghiệp có sự gặp gỡ, trao đổi và thống nhất ý chí.
Hay nói cách khác, giữa các doanh nghiệp có tiếng nói chung và thỏa thuận cùng hành động mà không bị tác động, ép buộc bởi bất cứ lý do nào. Thứ ba, mục đích cuối cùng của thỏa thuận là hạn chế cạnh tranh. Nội dung của các TTHCCT là các yếu tố cạnh tranh như giá cả, thị trường,… Các bên tham gia TTHCCT với mục đích hạn chế sức ép cạnh tranh trên thị trường hay hạn chế nó. Thông qua đó, gây thiệt hại cho các bên không tham gia thỏa thuận, xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và toàn xã hội.
Đối với doanh nghiệp không tham gia vào các TTHCCT đứng trước nguy cơ mất cơ hội kinh doanh và bị “văng” ra khỏi vòng quay của thị trường. Bởi đối thủ của doanh nghiệp đó là tập thể các doanh nghiệp có sức ảnh hưởng lớn đến thị trường. Một doanh nghiệp không tham 9 gia thỏa thuận, tức là bên chống đối, cần loại bỏ ngay. Đối với khách hàng, những người tiêu dung, lợi ích bị thiệt hại là không được hưởng các sản phẩm với chất lượng tốt nhất với mức giá cả phù hợp.
Mối liên kết bền chặt giữa các doanh nghiệp trongg TTHCCT tạo ra sức mạnh khống chế thị trường và buộc khách hàng phải tuân theo luật chơi đó không dựa trên quy luật nào của thị trường. Thứ tư, các TTHCCT được biểu hiện dưới hình thức nhất định. Hình thức của TTHCCT không là yếu tố bắt buộc khi xác định hành vi, có thể tồn tại dưới dạng văn bản hoặc lời nói; chính thức hoặc không chính thức. Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định hình thức của TTHCCT lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều tra và xử lý đối với các hành vi TTHCCTbị cấm, cho dù hình thức biểu hiện của thoả thuận hạn chế cạnh tranh không làm ảnh hưởng đến hậu quả pháp lý của các hành vi TTHCCT bị cấm.
TTHCCT có thể được biểu hiện dưới các hình thức như bằng miệng hoặc văn bản, thoả thuận ngầm hay thoả thuận công khai dưới các loại như hợp đồng, nghị quyết, quyết định, nội quy của các hiệp hội. Việc xác định hình thức của các TTHCCT không làm ảnh hưởng đến hậu quả pháp lý nhưng có khả năng ảnh hưởng đến việc chứng minh tồn tại thỏa thuận. Nếu TTHCCT được thể hiện dưới hình thức văn bản như hợp đồng, biên bản họp, nghị quyết, email, fax,… thì việc thu thập chứng cứ và chứng minh sẽ dễ dàng hơn. Việc chứng minh sẽ trở lên khó khăn hơn khi các chủ thể “cao tay” hơn, sử dụng các thỏa thuận ngầm.
Khi đó, cơ quan điều tra cần dựa vào các loại chứng cứ gián tiếp để chứng minh thỏa thuận. Thứ năm, hậu quả các TTHCCT là làm giảm, làm sai lệch, làm cản trở hoặc triệt tiêu sự cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, hậu quả này có thể đã xảy ra hoặc chưa xảy ra. Các TTHCCT chỉ đòi hỏi các yếu tố cấu thành về mặt hình thức.
Khi xác định hành vi TTHCCT không cần xét đến hậu quả thực tế đã xảy ra chưa. Chỉ cần các bên có hành vi TTHCCT là phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Việc xác 10 định hậu quả thực tế chỉ có ý nghĩa trong việc xác định mức độ trách nhiệm hay mức phạt.3 Các TTHCCT thường gặp Trên thực tế, các hành vi TTHCCT diễn ra đa dạng và dưới nhiều hình thức khác nhau. Luật Cạnh tranh 2018 đã khái quát và phân biệt các hành vi TTHCCT dưới các nhóm hành vi.
Căn cứ theo Điều 11 Luật cạnh tranh năm 2018 quy định bao gồm các hành vi sau: (i) Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. (ii) Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ. (iii) Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. (iv) Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
(v) Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh. (vi) Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận. (vii) Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư. (viii) Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.