Pháp luật về chính sách khoan hồng trong xử lý các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Tìm hiểu pháp luật về chính sách khoan hồng trong xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Cập nhật quy định mới nhất về cạnh tranh và doanh nghiệp.

Chuyên ngành

Luật Cạnh Tranh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

83
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CSKH TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH

1.1. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

1.2. CSKH trong pháp luật chống TTHCCT

1.2.1. Cơ sở và nguyên lý hình thành CSKH

1.2.2. Cơ sở cho sự hình thành CSKH

1.2.3. Nguyên lý của chương trình dựa trên nền tảng lý thuyết trò chơi

1.2.4. Ứng dụng của lý thuyết trò chơi vào việc xây dựng CSKH trong pháp luật cạnh tranh

1.3. Đặc điểm của CSKH

1.4. Vai trò của CSKH

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CSKH TRONG XỬ LÝ CÁC HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH

2.1. Pháp luật Việt Nam về CSKH trong xử lý các hành vi TTHCCT

2.1.1. Trình tự giải quyết vụ việc TTHCCT

2.1.2. Chế tài đối với các cá nhân, doanh nghiệp tham gia TTHCCT

2.1.3. Pháp luật Việt Nam về CSKH theo Luật cạnh tranh 2018

2.1.3.1. Đối tượng hưởng CSKH
2.1.3.2. Điều kiện áp dụng CSKH
2.1.3.3. Số lượng doanh nghiệp và căn cứ xác định số lượng được hưởng CSKH
2.1.3.4. Mức độ miễn giảm phạt tiền theo CSKH

2.2. Pháp luật các quốc gia về CSKH trong xử lý các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

2.2.1. Pháp luật của Hoa Kỳ

2.2.2. Quy định pháp luật về CSKH

2.2.3. Pháp luật của EU

2.2.4. Quy định về CSKH

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC THI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CSKH TRONG XỬ LÝ HÀNH VI TTHCCT Ở VIỆT NAM

3.1. Tại Việt Nam

3.2. Trên thế giới

3.3. Những hạn chế

3.4. Kiến nghị khắc phục

3.4.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về CSKH

3.4.2. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về CSKH trong xử lý các hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. CSKH Là Gì Tổng Quan Chính Sách Khoan Hồng CSKH Cạnh Tranh

Nền kinh tế phát triển cần môi trường cạnh tranh bình đẳng. Cạnh tranh là động lực, thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến, giảm chi phí. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp liên kết để hạn chế cạnh tranh, tạo thành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT). Hậu quả là độc quyền hóa thị trường, giá cả, chất lượng bị khống chế. Các hành vi hạn chế cạnh tranh làm giảm, sai lệch, ngăn cản cạnh tranh. Pháp luật cạnh tranh cấm TTHCCT, giao cơ quan quản lý cạnh tranh điều tra, xử lý. Thực tế, phát hiện TTHCCT rất khó vì thủ đoạn tinh vi. CSKH là một công cụ hữu hiệu để phá vỡ các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh từ bên trong.

1.1. Định Nghĩa Thỏa Thuận Hạn Chế Cạnh Tranh TTHCCT

Trong kinh tế học, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (Cartel) là sự thống nhất hành động để giảm cạnh tranh. Từ điển Chính sách thương mại quốc tế định nghĩa Cartel là thỏa thuận có lợi cho các hàng hóa liên quan, nhưng có hại cho bên khác, ví dụ như giảm cạnh tranh, thỏa thuận giá, giới hạn sản lượng, chia sẻ thị trường. Theo Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh Tranh năm 2018, TTHCCT là thỏa thuận gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh. Các thỏa thuận có thể diễn ra ở nhiều giai đoạn, giữa người bán, người mua, trong đấu thầu. Có TTHCCT theo chiều ngang và chiều dọc. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, chỉ cần chứng minh có thỏa thuận phản cạnh tranh.

1.2. Đặc Trưng Nhận Diện Thỏa Thuận Hạn Chế Cạnh Tranh

Hành vi hạn chế cạnh tranh có những đặc trưng riêng: (1) Thỏa thuận giữa các doanh nghiệp (theo Khoản 1 Điều 2 LCT 2018, doanh nghiệp bao gồm cả tổ chức, cá nhân kinh doanh). (2) Thể hiện sự thống nhất ý chí (qua đàm phán, nghị quyết hiệp hội, hoặc cam kết). (3) Mục đích hạn chế cạnh tranh (về giá cả, thị trường, gây thiệt hại cho bên ngoài). (4) Có hình thức nhất định (văn bản hoặc lời nói, chính thức hoặc không chính thức, hình thức này quan trọng trong điều tra). Tóm lại, TTHCCT là thỏa thuận có mục đích hạn chế cạnh tranh, gây thiệt hại cho thị trường.

II. Vì Sao Cần CSKH Cơ Sở Hình Thành Ưu Điểm Chính Sách Khoan Hồng

Phát hiện TTHCCT rất khó. Cơ quan điều tra cần nghiệp vụ để thu thập chứng cứ. Việc xử phạt nghiêm khắc cũng làm TTHCCT 'ngầm hóa'. Chính sách khoan hồng cạnh tranh (CSKH) là giải pháp thay thế, công cụ hiệu quả để phá vỡ TTHCCT. CSKH khuyến khích doanh nghiệp tự giác khai báo, hợp tác với cơ quan quản lý cạnh tranh. Việc này giúp thu thập chứng cứ, triệt phá TTHCCT. CSKH đặc biệt hiệu quả với các TTHCCT xuyên biên giới. Bổ sung CSKH vào LCT 2018 là yêu cầu cấp thiết, tăng cường phát hiện và điều tra TTHCCT.

2.1. Cơ Sở Lý Luận Của Chính Sách Khoan Hồng CSKH

Chính sách khoan hồng cạnh tranh (CSKH) dựa trên lý thuyết trò chơi. Các doanh nghiệp tham gia TTHCCT luôn đối mặt với rủi ro bị phát hiện và trừng phạt. CSKH tạo động lực cho doanh nghiệp khai báo, đổi lấy việc giảm nhẹ hoặc miễn trừ trách nhiệm. CSKH phá vỡ sự tin tưởng giữa các thành viên TTHCCT, làm suy yếu liên minh. CSKH giúp cơ quan quản lý cạnh tranh thu thập thông tin, chứng cứ nhanh chóng, hiệu quả hơn. Đây là công cụ đắc lực để chống lại các hành vi hạn chế cạnh tranh.

2.2. Vai Trò Quan Trọng Của CSKH Trong Luật Cạnh Tranh

Chính sách khoan hồng cạnh tranh (CSKH) đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện, điều tra và xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. CSKH tạo ra cơ chế tự giác khai báo, giảm gánh nặng cho cơ quan quản lý cạnh tranh. CSKH khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật cạnh tranh, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. CSKH bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thúc đẩy phát triển kinh tế. Do đó, việc hoàn thiện CSKH là cần thiết để nâng cao hiệu quả thực thi luật cạnh tranh.

III. Pháp Luật Việt Nam Thế Giới Về CSKH So Sánh Phân Tích Chi Tiết

Pháp luật Việt Nam quy định về chính sách khoan hồng cạnh tranh (CSKH) trong LCT 2018. Các quy định này xác định đối tượng được hưởng CSKH, điều kiện áp dụng, số lượng doanh nghiệp được hưởng, mức độ miễn giảm phạt. Pháp luật các quốc gia như Hoa Kỳ, EU cũng có quy định tương tự. So sánh pháp luật Việt Nam và quốc tế giúp nhận diện điểm mạnh, điểm yếu. Cần học hỏi kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện CSKH ở Việt Nam. Từ đó nâng cao hiệu quả thực thi luật cạnh tranh.

3.1. Quy Định Pháp Luật Việt Nam Về Chính Sách Khoan Hồng CSKH

Theo LCT 2018, doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể được hưởng chính sách khoan hồng cạnh tranh (CSKH) nếu tự nguyện khai báo và cung cấp chứng cứ. Điều kiện áp dụng CSKH bao gồm: (1) Doanh nghiệp là người đầu tiên khai báo. (2) Doanh nghiệp cung cấp thông tin, chứng cứ đầy đủ, chính xác. (3) Doanh nghiệp hợp tác đầy đủ với cơ quan quản lý cạnh tranh. Mức độ miễn giảm phạt phụ thuộc vào mức độ hợp tác của doanh nghiệp. Pháp luật cũng quy định về bảo mật thông tin trong CSKH, đảm bảo tính tự nguyện của doanh nghiệp.

3.2. Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Chính Sách Khoan Hồng Hoa Kỳ EU

Hoa Kỳ và EU có kinh nghiệm lâu năm về chính sách khoan hồng cạnh tranh (CSKH). Hoa Kỳ có chương trình khoan hồng của Bộ Tư pháp, miễn trừ hoàn toàn truy tố hình sự cho người đầu tiên khai báo. EU có quy định tương tự, giảm nhẹ đáng kể tiền phạt cho người hợp tác. Cả hai đều chú trọng đến tính tự nguyện, trung thực của doanh nghiệp khai báo. Các nước này cũng có cơ chế bảo mật thông tin trong CSKH, khuyến khích doanh nghiệp tham gia. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy CSKH là công cụ hiệu quả để chống lại hành vi hạn chế cạnh tranh.

IV. Thực Thi CSKH Tại Việt Nam Đánh Giá Những Hạn Chế Cần Khắc Phục

Thực tế thực thi chính sách khoan hồng cạnh tranh (CSKH) ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Số lượng doanh nghiệp tham gia CSKH còn ít. Quy trình xét duyệt CSKH còn phức tạp. Nhận thức về CSKH trong cộng đồng doanh nghiệp còn hạn chế. Cần đánh giá kỹ lưỡng thực trạng thực thi CSKH để tìm ra giải pháp khắc phục. Nâng cao hiệu quả thực thi luật cạnh tranh, tạo môi trường cạnh tranh công bằng.

4.1. Thực Trạng Áp Dụng Chính Sách Khoan Hồng CSKH Ở Việt Nam

Việc áp dụng chính sách khoan hồng cạnh tranh (CSKH) tại Việt Nam còn gặp nhiều thách thức. (1) Doanh nghiệp còn e ngại khai báo do lo sợ bị trả thù, ảnh hưởng đến uy tín. (2) Quy định về CSKH còn chưa rõ ràng, gây khó khăn cho doanh nghiệp. (3) Cơ quan quản lý cạnh tranh còn thiếu kinh nghiệm trong việc xét duyệt CSKH. (4) Công tác tuyên truyền, phổ biến về CSKH còn hạn chế. Cần có giải pháp đồng bộ để tháo gỡ những khó khăn này.

4.2. Những Hạn Chế Của CSKH Và Nguyên Nhân Chủ Yếu

Bất cập của chính sách khoan hồng tại Việt Nam: (1) Số lượng doanh nghiệp hưởng CSKH còn thấp. (2) Thủ tục hành chính rườm rà, thiếu minh bạch. (3) Thiếu cơ chế bảo vệ người tố giác hành vi hạn chế cạnh tranh. (4) Xử lý thông tin còn chậm. Nguyên nhân: (1) Thiếu thông tin, doanh nghiệp chưa hiểu rõ về CSKH. (2) Mức phạt chưa đủ sức răn đe. (3) Năng lực của cơ quan quản lý còn hạn chế. (4) Văn hóa e ngại tố giác.

V. Giải Pháp Nào Hoàn Thiện Pháp Luật Nâng Cao Hiệu Quả Thực Thi CSKH

Để cải thiện CSKH cần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi. Cần sửa đổi, bổ sung các quy định về CSKH, làm rõ các tiêu chí, thủ tục. Cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến về CSKH, nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp. Cần nâng cao năng lực cho cơ quan quản lý cạnh tranh, đảm bảo xét duyệt CSKH nhanh chóng, minh bạch. Cần tăng cường hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm từ các nước tiên tiến. Mục tiêu là xây dựng CSKH hiệu quả, góp phần hoàn thiện luật cạnh tranh.

5.1. Kiến Nghị Hoàn Thiện Pháp Luật Việt Nam Về CSKH

(1) Sửa đổi, bổ sung LCT 2018, làm rõ các khái niệm, tiêu chí. (2) Xây dựng quy trình xét duyệt CSKH minh bạch, công khai. (3) Bổ sung quy định về bảo vệ người tố giác hành vi hạn chế cạnh tranh. (4) Quy định cụ thể về mức độ hợp tác được xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm. (5) Nghiên cứu án lệ về CSKH để có hướng dẫn áp dụng thống nhất.

5.2. Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Thi CSKH

(1) Tăng cường tuyên truyền, phổ biến về CSKH. (2) Tổ chức tập huấn, đào tạo cho cán bộ quản lý. (3) Xây dựng cơ chế tiếp nhận, xử lý thông tin nhanh chóng. (4) Tăng cường kiểm tra, giám sát hành vi hạn chế cạnh tranh. (5) Hợp tác với các tổ chức quốc tế, học hỏi kinh nghiệm. (6) Xây dựng văn hóa cạnh tranh lành mạnh.

VI. Tương Lai CSKH Tác Động Hướng Phát Triển Chính Sách Khoan Hồng

Tác động của CSKH đến cạnh tranh là rất lớn. CSKH giúp phát hiện, xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tạo môi trường cạnh tranh công bằng. Trong tương lai, CSKH sẽ tiếp tục được hoàn thiện, phát triển. CSKH sẽ trở thành công cụ quan trọng trong việc bảo vệ cạnh tranh. Doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu, áp dụng CSKH để tuân thủ pháp luật, bảo vệ quyền lợi. CSKH góp phần xây dựng môi trường kinh doanh cạnh tranh.

6.1. Triển Vọng Phát Triển Của CSKH Trong Luật Cạnh Tranh

CSKH sẽ tiếp tục được hoàn thiện, phát triển theo hướng: (1) Mở rộng phạm vi áp dụng cho các hành vi vi phạm khác. (2) Nâng cao mức độ miễn giảm trách nhiệm để khuyến khích doanh nghiệp tham gia. (3) Tăng cường bảo mật thông tin, bảo vệ người tố giác. (4) Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình xét duyệt. (5) Tăng cường hợp tác quốc tế để giải quyết các vụ việc xuyên biên giới. CSKH sẽ trở thành công cụ không thể thiếu trong thực thi luật cạnh tranh.

6.2. Lời Khuyên Cho Doanh Nghiệp Về CSKH Tuân Thủ Lợi Ích

Doanh nghiệp cần: (1) Tìm hiểu kỹ về CSKH. (2) Xây dựng chương trình tuân thủ pháp luật cạnh tranh. (3) Báo cáo ngay khi phát hiện hành vi hạn chế cạnh tranh. (4) Hợp tác đầy đủ với cơ quan quản lý cạnh tranh. Lợi ích của việc tham gia CSKH: (1) Giảm nhẹ hoặc miễn trừ trách nhiệm. (2) Bảo vệ uy tín, tránh bị xử phạt nặng. (3) Thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật. (4) Góp phần xây dựng cạnh tranh công bằng.

15/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CSKH TRONG PHÁP LUẬT CHỐNG THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH 1.1 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 1.1 Khái niệm Hành vi TTHCCT được xét dưới nhiều góc độ như sau: Trong kinh tế học, hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh (Cartel) được nhìn nhận là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh. Từ điển Chính sách thương mại quốc tế định nghĩa Cartel là một thỏa thuận chính thức hoặc không chính thức để đạt được kết quả có lợi cho các hàng hóa có liên quan, nhưng có thể có hại cho các bên khác. Những kết quả này có thể bao gồm việc giảm bớt cạnh tranh giữa các hãng, thỏa thuận không cạnh tranh về giá, giới hạn sản lượng đầu ra của các hãng thành viên, thỏa thuận chia sẻ thị trường… Có rất nhiều loại cartel nhưng tất cả đều nhằm giảm sản lượng và tăng giá bằng cách loại trừ cạnh tranh giữa các bên tham gia thỏa thuận2 Theo Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định: “Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh.” Trên thực tế, thoả thuận giữa các doanh nghiệp có thể diễn ra ở nhiều giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối. Do đó, tồn tại nhiều biểu hiện khác nhau của TTHCCT: các thỏa thuận giữa những người bán với nhau (ví dụ như thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận phân chia thị trường.); thỏa thuận giữa những người mua; thỏa thuận trong đấu thầu.

TTHCCT có thể diễn ra giữa các doanh nghiệp thuộc 2 ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân, (2011), “Cạnh tranh và các dạng thức thỏa thuận hạn chế cạnh tranh”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11(196) 7 những khâu khác nhau của quá trình kinh doanh. Có thể phân chia thành 2 loại chủ yếu: TTHCCT theo chiều ngang và TTHCCT theo chiều dọc. Thực tế tại một số nước, các thỏa thuận cartel được xem là bất hợp pháp bất kể hệ quả của nó như thế nào, ví dụ như tại Hoa Kỳ, người kiện chỉ cần chứng minh rằng đã có sự thỏa thuận và sự thỏa thuận có thể mang tính phản cạnh tranh.

Ở Châu Âu, các thỏa thuận cartel khi vi phạm Điều 81 Hiệp ước Rome sẽ bị phạt rất nặng nếu mục tiêu hay tác động của chúng là ngăn ngừa, hạn chế hoặc bóp méo cạnh tranh. Tại Anh, các thỏa thuận phải được đăng ký và các thỏa thuận cartel thì không được phép.2 Các đặc trưng của TTHCCT Các hành vi TTHCCT có những đặc trưng riêng biệt để nhận dạng và phân biệt với các hành vi cạnh tranh khác. Bao gồm các đặc trưng sau đây: Thứ nhất, TTHCCT là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp là chủ thể trong quan hệ TTHCCT.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Cạnh tranh năm 2018, doanh nghiệp được hiểu là các tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam. Doanh nghiệp là chủ thể tạo nên và quyết định mức độ cũng như hình thức của cạnh tranh. Đồng thời, doanh nghiệp cũng chính là chủ thể gây hạn chế, giảm bớt hay triệt tiêu cạnh tranh do chính mình đã tạo ra bằng các thỏa thuận. Các TTHCCT có thể là giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau hoặc có thể là giữa các doanh nghiệp có mối liên hệ với nhau trong cùng một chuỗi sản xuất hay cung ứng sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa.

Thứ hai, TTHCCT thể hiện sự thống nhất ý chí của các doanh nghiệp. Thỏa thuận là đặc trưng pháp lý cơ bản nhất và là yếu tố cấu thành hành vi TTHCCT. Trong TTHCCT đòi hỏi phải có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên trong quan hệ thỏa thuận, cùng chung mục đích hướng tới là hạn chế cạnh tranh trong cuộc 8 chiến kinh doanh. Do đó, TTHCCT là kết quả của quá trình đàm phán, thương lượng giữa các bên tham gia với nhau liên quan đến một hoặc một số nội dung hay yếu tố nào đó của thị trường.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp các bên không trực tiếp đàm phán, thỏa thuận với nhau mà gián tiếp đạt được sự TTHCCT thông qua các nghị quyết, quyết định hay hành động chung của Hiệp hội mà các bên là thành viên. Sở dĩ có trường hợp này là do khi các doanh nghiệp tham gia và trở thành thành viên của các hiệp hội, tự nguyện chấp nhận hay đồng ý theo những cam kết hay chủ trương chung của hiệp hội, chấp nhận cho phép hiệp hội được đưa ra nghị quyết, quyết định hoặc hành động chung và bản thân các doanh nghiệp tuân thủ theo thì đó cũng là một sự thỏa thuận giữa các thành viên của hiệp hội đã đạt được. Hình thức thỏa thuận như vậy gần như mang tính chất ủy quyền quyết định cho Hiệp hội mà doanh nghiệp là thành viên. Khi đó, Hiệp hội bị giàng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý với các thành viên.

Ngoài ra, TTHCCT còn có biểu hiện dưới dạng các cam kết tuân thủ hay đáp ứng những yêu cầu do một hoặc một số bên đặt ra. Trên thực tế, có trường hợp các doanh nghiệp thực hiện các hành vi giống nhau nhưng không vì thế mà có thể kết luận giữa các doanh nghiệp có sự thỏa thuận. Nó có thể là sự trùng hợp trên cơ sở tính toán và đưa ra các quyết định độc lập của các doanh nghiệp. Để chứng minh tồn tạị TTHCCT cần có các thông tin, chứng cứ cho thấy rằng giữa các doanh nghiệp có sự gặp gỡ, trao đổi và thống nhất ý chí.

Hay nói cách khác, giữa các doanh nghiệp có tiếng nói chung và thỏa thuận cùng hành động mà không bị tác động, ép buộc bởi bất cứ lý do nào. Thứ ba, mục đích cuối cùng của thỏa thuận là hạn chế cạnh tranh. Nội dung của các TTHCCT là các yếu tố cạnh tranh như giá cả, thị trường,… Các bên tham gia TTHCCT với mục đích hạn chế sức ép cạnh tranh trên thị trường hay hạn chế nó. Thông qua đó, gây thiệt hại cho các bên không tham gia thỏa thuận, xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng và toàn xã hội.

Đối với doanh nghiệp không tham gia vào các TTHCCT đứng trước nguy cơ mất cơ hội kinh doanh và bị “văng” ra khỏi vòng quay của thị trường. Bởi đối thủ của doanh nghiệp đó là tập thể các doanh nghiệp có sức ảnh hưởng lớn đến thị trường. Một doanh nghiệp không tham 9 gia thỏa thuận, tức là bên chống đối, cần loại bỏ ngay. Đối với khách hàng, những người tiêu dung, lợi ích bị thiệt hại là không được hưởng các sản phẩm với chất lượng tốt nhất với mức giá cả phù hợp.

Mối liên kết bền chặt giữa các doanh nghiệp trongg TTHCCT tạo ra sức mạnh khống chế thị trường và buộc khách hàng phải tuân theo luật chơi đó không dựa trên quy luật nào của thị trường. Thứ tư, các TTHCCT được biểu hiện dưới hình thức nhất định. Hình thức của TTHCCT không là yếu tố bắt buộc khi xác định hành vi, có thể tồn tại dưới dạng văn bản hoặc lời nói; chính thức hoặc không chính thức. Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định hình thức của TTHCCT lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều tra và xử lý đối với các hành vi TTHCCTbị cấm, cho dù hình thức biểu hiện của thoả thuận hạn chế cạnh tranh không làm ảnh hưởng đến hậu quả pháp lý của các hành vi TTHCCT bị cấm.

TTHCCT có thể được biểu hiện dưới các hình thức như bằng miệng hoặc văn bản, thoả thuận ngầm hay thoả thuận công khai dưới các loại như hợp đồng, nghị quyết, quyết định, nội quy của các hiệp hội. Việc xác định hình thức của các TTHCCT không làm ảnh hưởng đến hậu quả pháp lý nhưng có khả năng ảnh hưởng đến việc chứng minh tồn tại thỏa thuận. Nếu TTHCCT được thể hiện dưới hình thức văn bản như hợp đồng, biên bản họp, nghị quyết, email, fax,… thì việc thu thập chứng cứ và chứng minh sẽ dễ dàng hơn. Việc chứng minh sẽ trở lên khó khăn hơn khi các chủ thể “cao tay” hơn, sử dụng các thỏa thuận ngầm.

Khi đó, cơ quan điều tra cần dựa vào các loại chứng cứ gián tiếp để chứng minh thỏa thuận. Thứ năm, hậu quả các TTHCCT là làm giảm, làm sai lệch, làm cản trở hoặc triệt tiêu sự cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, hậu quả này có thể đã xảy ra hoặc chưa xảy ra. Các TTHCCT chỉ đòi hỏi các yếu tố cấu thành về mặt hình thức.

Khi xác định hành vi TTHCCT không cần xét đến hậu quả thực tế đã xảy ra chưa. Chỉ cần các bên có hành vi TTHCCT là phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Việc xác 10 định hậu quả thực tế chỉ có ý nghĩa trong việc xác định mức độ trách nhiệm hay mức phạt.3 Các TTHCCT thường gặp Trên thực tế, các hành vi TTHCCT diễn ra đa dạng và dưới nhiều hình thức khác nhau. Luật Cạnh tranh 2018 đã khái quát và phân biệt các hành vi TTHCCT dưới các nhóm hành vi.

Căn cứ theo Điều 11 Luật cạnh tranh năm 2018 quy định bao gồm các hành vi sau: (i) Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. (ii) Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ. (iii) Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. (iv) Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

(v) Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh. (vi) Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận. (vii) Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư. (viii) Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ