Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Các khái niệm va lí thuyết chung về chính sách, công nghệ và doi mới công nghệ 1. Chính sách Có nhiều các tiếp cận để xem xét khái niệm về chính sách. Anderson đưa ra khái niệm chính sách chung cho mọi lĩnh vực: “Chính sách la qua trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuối, dé giải quyết những van dé mà ho quan tâm ”.
Theo tác giả Vũ Cao Đàm trong cuốn “Phân tích và thiết kế chính sách cho phát triển” mỗi cách tiếp cận giúp người chuẩn bị quyết định chính sách một hướng tư duy, chúng ta có thé chọn một số cách tiếp cận quan trọng nhất dé phân tích, dé đưa ra một định nghĩa phù hợp. Từ tiếp cận xã hội học, chúng ta có thé hiểu, chính sách là tập hợp biện pháp do chủ thể quan lí đưa ra, nhằm tạo lợi thế cho một (hoặc một số) nhóm xã hội, giảm lợi thế của một (hoặc một số) nhóm xã hội khác, dé thúc day việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu xã hội mà chủ thể quyên lực dang hướng tới. Từ tiếp cận tâm lí học, chúng ta có thể hiểu, chính sách là tập hợp biện pháp đối xử ưu đãi với một nhóm xã hội, nhằm kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này hướng theo việc thực hiện một (hoặc một số) mục tiêu của chủ thể quyên lực. Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lí có thể hiểu theo những khía cạnh sau: — _ Chính sách là một tập hợp biện pháp.
Đó có có thé là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc nhóm xã hội. — Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh, các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư, chỉ thị 12 của chính phủ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tô chức (doanh nghiệp, bệnh viện, trường hoc,. — Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân va nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện mục tiêu nào đó.
— Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đổi xã hội phù hợp với mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra. Chính sách được phân loại theo nhiều cách khách nhau, có thể phân loại theo mục tiêu của chính sách, theo phương tiện thực hiện chính sách, theo tầm hạn quản lí, theo thời hạn tác động của chính sách, theo chủ thé ban hành chính sách. Công nghệ Trong quá trình đổi mới quản lí kinh tế ở Việt Nam, chuyên đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều thuật ngữ kinh tế - kỹ thuật đã du nhập vào Việt Nam, trong số đó có thuật ngữ công nghệ. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khởi đầu từ Mỹ rồi Tây Âu đã sử dụng thuật ngữ “công nghệ” để chỉ các hoạt động ở nọi lĩnh vực, các hoạt động này áp dụng những kiến thuucs là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng - một sự phát triển của khoa học trong thực tiễn - nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người.
Khái niệm công nghệ này dần dần được chấp nhận rộng rãi trên thế giới, ví dụ thể hiện ở việc thay đôi tên gọi của các tạp chí lớn trên thế giới, như “tạp chí khoa học va kỹ thuật - Science et technique” đổi thành “khoa học và công nghệ” - Science et technogie. Mặc dù đã duoc sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, song việc đưa ra một định nghĩa công nghệ lại chưa có được sự thống nhất. nguyên nhân của điều đó là do tính đa dạng của công nghệ, sự đa dạng trong quan điểm của các nhà nghiên cứu và sự bùng nô của khoa học và công nghệ. 13 Các tô chức quốc tế về công nghệ đã có nhiều cố gắng trong việc đưa ra 1 định nghĩa công nghệ có thé dung hoa cac quan diém, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hòa nhập của các quốc gia trong từng khu vưc và trên phạm vi toàn cầu.
Có nhiều định nghĩa về công nghệ: Định nghĩa cô điển nhất, mô tả trật tự thao tác: Công nghệ là một trình tự các thao tác về kỹ thuật của qúa trình chế biến vật chất và/hoặc thông tin. Trình tự không thê đảo ngược các thao tác. Công nghệ là hệ thống tri thức kỹ thuật về quá trình chế biến vật chất và/hoặc thông tin. Công nghệ là một phương tiện (device) gồm phần cứng của công nghệ và phần mềm của công nghệ.
Định nghĩa này được sử dụng trong thương mại. Theo khái niệm công nghệ của Sharif: công nghệ là phương tiện gồm 4 thành phan (components): phần kỹ thuật (Technoware), phần thông tin (Inforware), phan con người, nhân lực (Humanware), phần tô chức (Orgware). Theo khái niệm công nghệ được nêu trong Luật khoa học và công nghệ (2000) “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện dùng dé biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”, theo Luật chuyên giao công nghệ (2006), “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng dé biến đôi nguồn lực thành sản phẩm”. Có bốn khía cạnh cần bao quát trong định nghĩa công nghệ đó là: Khia cạnh “công nghệ là máy biến đổi”.
Khia cạnh nay đề cập đến khả năng làm ra đồ vật của công nghệ. Cần phân biệt giữa khái niệm công nghệ và kỹ thuật. Hai khái niệm này đều quan tâm tới việc tạo ra các đồ vật song công nghệ không những chỉ quan tâm tới việc tạo ra các đồ vật đó ma còn quan tâm tới hiệu quả của các quá trình đó. Khia cạnh “công nghệ là một công cụ”.
Khia cạnh nay nhấn mạnh vào dạng tồn tại vật chất của công nghệ. công nghệ là một sản phẩm của con người, do đó con người có thê làm chủ được nó vì nó hoàn toàn không phải là “cái hộp đen” huyện bi 14 đối với các nước đang phát triển. Vì là một công cụ nên công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ đối với con người và cơ cấu tổ chức. Khia cạnh kiến thức của công nghệ nhấn mạnh vào dạng ton tại phi vật chất của công nghệ, khía cạnh này đề cập đến cốt lõi của mọi hoạt động công nghệ là kiến thức.
Nó bác bỏ quan niệm công nghệ phải là các vật thé, phải nhìn thấy được. Đặc trưng kiến thức khăng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ, đồng thời nhắn mạnh rằngkhông phải ở các quốc gia có các công nghệ giống nhau sẽ đạt được kết quả như nhau. Việc sử dụng một công nghệ doi hỏi con người cần phải được đào tạo về kỹ năng, trang bị kiến thức và phải luôn cập nhật những kiến thức đó. Khia cạnh thứ tư đề cập đến van đề: công nghệ dù là kiến thức song vẫn có thể được mua, được bán.
Công nghệ là một loại hàng hóa. Đó là do công nghệ hàm chứa trong các vật thê tạo nên nó. Xuất phát từ các khía cạnh trên, trong luận văn này công nghệ được hiểu theo định nghĩa công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Binh Duong (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific - ESCAP) đưa ra: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình va kỹ thuật dùng dé chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”.
Theo định nghĩa này, khái nệm công nghệ không chi áp dung cho các lĩnh vực sản xuất ra các sản phẩm vật chất mà còn được áp dụng cho các lĩnh vực sản xuất ra các sản phẩm phi vật chất, dịch vụ. Định nghĩa công nghệ của ESCAP đã nêu bật được bản chất thực sự bên trong của công nghệ và xác định rõ ràng rằng công nghệ là kiến thức. Khi chúng ta nói về trang thiết bị CN tức là chúng ta nói về tri thức khoa học hàm chứa trong các thiết bị đó. 15 Như vậy công nghệ bao gồm cả phần mềm (tri thức, bí quyết, phương pháp quản li.) và phần cứng (máy móc, phương tiện, công cụ, phương tiện,.) dùng dé biến nguồn lực thành sản phẩm phục vụ nhu cầu của xã hội.
Tóm lại xu thế chung hiện nay trên thế giới nhắn mạnh vào khía cạnh công nghệ là tri thức còn máy móc, thiết bi chang qua chi là vật mang tri thức mà thôi. Van đề quan trọng nhất trong các định nghĩa về công nghệ đó là tri thức khoa học. Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, tác giả nhìn nhận phương pháp quản lí một tổ chức là một công nghệ quản lí mà trong đó lãnh đạo tổ chức sử dụng dé đạt được mục tiêu quan lí. Tùy theo điều kiện, môi trường và trình độ khác nhau mà tổ chức lựa chọn các phương pháp quản lí/công nghệ quản lí khác nhau.
Theo các chuyên gia quản lí thi Công nghệ quản lí có thé là lập kế hoạch chiến lược, thẻ điểm cân bằng hay quản lí chất lượng. Đổi mới công nghệ Lịch sử phát triển xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của một loại hình kỹ thuật đặc trưng quyết định sự phát triển của xã hội loài người ở giai đoạn đó. Thời kỳ đồ đá phát triển cao hơn thời kỳ trước đó là nhờ sự xuất hiện và phát triển của các công cụ lao động bang đá. Thời ky đó lại được thay thế bởi thời kỳ đồ đồng có mức độ phát triển cao hơn với sự xuất hiện và phát triển của việc sản xuất và sử dụng các công cụ sản xuất bằng đồng.
Chính khả năng dễ chế tạo thành các công cụ lao động khác nhau của đồng và tính hiệu quả cao hơn của các công cụ nàyđã làm cho chất lượng sống của con người được nâng cao hơn. Đến thé ky XVIII tat cả các hệ thống kỹ thuật mà loài người đã sử dụng lúc đó dần được thay đổi đó là ở nguồn động lực, với sự ra đời của máy hơi nước - nguồn động lực mới thay thế nguồn động lực truyền thống là sức lực cơ bắp của con người và gia súc và một phần nhỏ sức mạnh tự nhiên như sức gió, sức nước.