Chương 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRUYỀN THÔNG MARKETING 1.1 Tổng quan về truyền thông marketing 1.1 Khái niệm về truyền thông marketing Nhiều khái niệm về truyền thông được các nhà nghiên cứu đưa ra, tuy vậy, một cách truyền thống, truyền thông (communication) là quá trình truyền đạt thông tin từ người này tới người khác thông qua những thiết bị, phương tiện thông tin hoặc một cách trực tiếp. Theo Philip Kotler cho rằng “Truyền thông MKT (MKT communication) là các hoạt động truyền thông tin một cách gián tiếp hay trực tiếp các thông tin liên quan đến SP và bản thân DN tới KH và các đối tượng công chúng nhằm thuyết phục họ tin tưởng vào DN cũng như SP và mua SP của DN”[5]. Theo ông, truyền thông MKT là một bộ phận của MKT hỗn hợp. Bản chất của truyền thông MKT là việc sử dụng các phương tiện để truyền thông tin liên lạc tới thị trường và KH mục tiêu nhằm thông báo sự sẵn có của SP, thuyết phục và nhắc nhở KH sử dụng tiếp SP.
Theo Elliot (2010) truyền thông MKT là một trong 4 nhóm công cụ chủ yếu của MKT - mix mà một DN có thể sử dụng để tác động vào người dùng mục tiêu nhằm đạt được mục đích của mình. Bản chất của hoạt động truyền thông MKT là truyền tin tới người dùng tin về tổ chức và SP nhằm thuyết phục họ sử dụng SP. Như vậy, truyền thông MKT là tất cả những phương thức liên kết được sử dụng hướng tới người dùng. Giúp người dùng biết đến SP mình cần, các lợi ích nhờ việc khai thác, sử dụng SP đó, cũng như cách thức có thể khai thác, sử dụng được SP.[1] Percy lại cho rằng “truyền thông MKT là lập kế hoạch và thực hiện tất cả các loại QC và xúc tiến bán cho một nhãn hiệu, dịch vụ hoặc một DN xác định để đáp ứng một tập hợp chung các mục tiêu truyền thông hoặc cụ thể hơn nhóm hỗ trợ một đơn vị duy nhất”.[2] Theo tác giả, truyền thông MKT là tập hợp tất cả các công cụ và kế hoạch nhằm đạt được hiệu quả cao nhất của mục tiêu truyền thông hoặc một đơn vị duy nhất.
Ở Việt Nam hiện nay, quan điểm được chấp nhận và sử dụng nhiều nhât là Luan van 10 của tác giải Phan Đình Chiến (2018) trong giáo trình truyền thông MKT tích hợp. Cụ thể, tác giả quan niệm truyền thông MKT bản chất là một công cụ quan trọng trong tổ hợp MKT. Về bản chất, truyền thông MKT chính là những hoạt động nhằm cung cấp thông tin về SP/dịch vụ/thương hiệu và bản thân DN tới KH, tạo sự nhận biết, xây dựng lòng tin và thúc đẩy hành động mua của họ.[16] Tóm lại, truyền thông MKT là trường hợp đặc biệt của truyền thông, là những hoạt động truyền thông hướng vào thông tin, thuyết phục các đối tượng nhận tin và KH tin tưởng vào SP, DN, và thương hiệu để họ yêu thích, mua và sử dụng SP và thương hiệu của DN.2 Vai trò của truyền thông marketing trong doanh nghiệp. Là một trong bốn nhân tố thuộc MKT hỗn hợp, truyền thông MKT bao gồm tất cả các hoạt động nhằm đảm bảo KH sẽ nhận biết về dịch vụ và SP của một một tổ chức hay DN.
Từ đó, KH sẽ có ấn tượng về chúng một cách tốt nhất và thực hiện giao dịch mua bán thực sự. Cụ thể, bằng những chiến lược truyền thông MKT, DN sẽ thông tin tới KH triển vọng biết được những lợi thế, lợi ích, công dụng, giá trị của SP DN cung cấp tới NTD. Do đó, truyền thông MKT giúp DN xây dựng một hình ảnh tốt đẹp, làm cho KH thiết lập được thái độ và nhận thức thuận lợi đối với thương hiệu của DN và nhãn hiệu của SP. Ngoài ra, truyền thông MKT sẽ giúp DN tăng doanh số bán hàng hiện tại cùng việc củng cố những hoạt động phân phối ở các điểm bán lẻ và đại lý, có được sự hợp tác từ lực lượng bán hàng cùng trung gian.
Cụ thể, truyền thông MKT là một thành tố quan trọng có vai trò hỗ trợ đắc lực cho các công cụ MKT hỗn hợp khác. Tại bất cứ tổ chức nào, vai trò của truyền thông MKT là cực kỳ quan trọng. Vai trò đó trong DN bao gồm các yếu tố sau[15]: Phối hợp với những công cụ khác của MKT hỗn hợp nhằm đạt mục tiêu MKT Là công cụ thực hiện chức năng truyền thông nhằm đáp ứng yêu cầu KH. Luan van 11 Là công cụ cạnh tranh trong kinh doanh: gia tăng giá trị SP, thông tin, nâng cao uy tín nhãn hiệu, xây dựng nhận thức về SP, duy trì thái độ, niềm tin tốt đẹp của công chúng về doanh nghiệp.
Truyền thông MKT đóng vai trò rất quan trọng trong việc hoạt động kinh doanh tại bất kỳ doanh nghiệp hay tổ chức nào, nhưng nó không thể ép người tiêu dùng mua những sản phẩm không phù hợp với sở thích hay nhu cầu của họ. Doanh nghiệp cũng không thể khiến KH mua sản phẩm với giá cao hơn, hoặc yêu cầu họ mua sản phẩm trong khi nó có sẵn nhưng số lượng hạn chế. Do đó, để có thể phát huy được tối đa vai trò của mình, trong chiến lược MKT của DN đòi hỏi truyền thông MKT phải được kết hợp phù hợp với những yếu tố khác.2 Lập kế hoạch truyền thông marketing Những nhà MKT buộc phải hiểu rõ hoạt động trong hệ thống truyền thông. Mô hình truyền thông được đưa ra bởi các tác giả Kotler và Keller trong cuốn sách nổi tiếng Quản trị MKT (2014) giải đáp: ai? nói gì? trong kênh nào? cho ai? hiệu quả như thế nào? Truyền thông có liên quan đến 9 yếu tố thể hiện ở hình dưới.
Hai nhân tố người gửi và người nhận thể hiện các bên chủ yếu tham gia truyền thông. Hai nhân tố khác (phương tiện và thông điệp truyền thông) là những công cụ truyền thông chủ yếu. Những chức năng truyền thông chủ yếu là bốn nhân tố khác nữa, gồm giải mã, mã hóa, phản ứng đáp lại cùng thông tin phản hồi. Nhân tố cuối cùng là nhiễu trong hệ thống đó.
Các nhân tố này được hiểu như sau: Người gửi (sender) là bên gửi thông điệp tới bên còn lại (có thể gọi là nguồn truyền thông). Mã hóa (encoding) là tiến trình chuyển thành các biểu tượng từ ý tưởng. Thông điệp (message) : Tập hợp những biểu tượng từ bên gởi truyền đi. Phương tiện truyền thông (media) gồm những kênh truyền thông mà từ đó người gửi truyền đi thông điệp đến người nhận.
Giải mã (decoding) là tiến trình người nhận quy ý nghĩa từ những biểu tượng của người gửi truyền đến. Luan van 12 Người nhận (receiver) là bên nhận thông điệp từ bên kia gửi đến. Đáp ứng (response) là tập hợp các phản ứng người nhận có được sau khi tiếp nhận thông điệp. Phản hồi (feeback) là một phần sự đáp ứng trở lại cho người gửi của người nhận được thông tin.
Nhiễu tạp (noise) là những yếu tố làm sai lệch thông tin trong hành trình truyền thông, đưa đến hậu quả quả là người nhận nhận được một thông điệp không đúng thông điệp được gửi đi.1: Các phần tử của quá trình truyền thông 1. Xác định công chúng mục tiêu Việc xác định công chúng mục tiêu sẽ ảnh hưởng quan trọng đến các quyết định của người truyền thông như nói cái gì, trong hoàn cảnh thời gian nào, nói cho ai, nói như thế nào và sẽ nói ở đâu. Do đó, ngay từ bước đầu tiên, người truyền thông phải xác định rõ ràng những công chúng mục tiêu mà mình muốn truyền tải thông điệp tới. Có thể là những người mua tiềm ẩn, người mua hiện tại, người quyết định hay là người có ảnh hưởng đến quyết định mua hàng.
Công chúng là nói chung hay những nhóm, cá nhân, một giới công chúng cụ thể. Theo Trần Thị Thập (2019) thì yếu tố đầu tiên phải xác định khi xây dựng kế hoạch truyền thông MKT là công chúng mục tiêu. Công chúng mục tiêu có thể là các KH tiềm năng của công ty, có thể là KH hiện có, các nhà cung ứng, các tổ chức xã hội… Luan van 13 Công chúng mục tiêu có ảnh hưởng quan trọng đến các quyết định về việc công ty sẽ: Truyền thông nội dung gì? (What?); Truyền thông như thế nào? (How?); Truyền thông khi nào? (When?); Truyền thông ở đâu? (Where?); Truyền thông như thế nào? (How?); hay Truyền thông cho ai? (Whom?). [7] Để có thể xác định được câu trả lời cho các câu hỏi trên, có thể sử dụng các kỹ thuật phân tích điển hình như kỹ thuật phân tích hình ảnh (thương hiệu công ty/SP) trong nhận thức của công chúng.
Vị trí thương hiệu mà công chúng hình dung có khớp với mục tiêu định vị của công ty đặt ra hay không? Nhận thức, thái độ của công chúng đối với thương hiệu trong hiện tại như thế nào? Cũng như việc công chúng mục tiêu đang ở vị trí nào trong mô hình các bậc hiệu ứng của NTD? 1.2 Xác định mục tiêu truyền thông Khi những nhà MKT đã xác định được đặc điểm cùng thị trường mục tiêu thì những người truyền thông phải đự đoán được phản ứng của KH bên cạnh việc phải quyết định được những mục tiêu công ty truyền thông là gì. Tuy nhiên, để NTD mua hàng, sử dụng chúng và hài lòng mới là mục tiêu cuối cùng. Đo lường phản ứng và nhận thức của công chúng cũng là một mục tiêu mà người làm MKT phải làm.1: Mô hình thứ bậc AIDA (Nguồn: Lê Thế Giới cùng cộng sự, 2011) Các hoạt động truyền thông MKT giúp NTD khắc sâu hình ảnh SP vào tâm trí của họ và thôi thúc họ hành động 1.3 Thiết kế chiến lược truyền thông 1.1 Mục tiêu chiến lược truyền thông Chiến lược truyền thông của công ty phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, mục tiêu của chiến lược truyền thông phải xây dưng phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp.
Việc thống nhất giữa các mục tiêu làm chi những Luan van 14 hoạt động trong công ty vận hành tốt, có sự đoàn kết cao trong việc hoàn thành mục tiêu chung, tránh việc mỗi người một ý.2 Nội dung chiến lược Một chiến lược truyền thông MKT thành công đó là một chiến lược truyền thông MKT thu hút được sự quan tâm của KH mục tiêu và thuyết phục họ quyết định mua SP của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải truyền thông trên tất cả các phương tiện truyền thông mà KH mục tiêu của mình thường theo dõi để có thể thu hút sự chú ý của KH mục tiêu mà doanh nghiệp hướng.