CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 1.1 Chiến lược kinh doanh của ngân hàng 1.1 Khái niệm về chiến lược và quản trị chiến lược Khái niệm về chiến lược và quản trị chiến lược có rất nhiều tài liệu đề cập đến. Và cũng có rất nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra khái niệm khác nhau. Tôi xin giới thiệu một vài khái niệm phổ biến và dễ tiếp cận nhất: 1.1 Khái niệm về chiến lược - Theo Fred R David “Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể bao gồm: sự phát triển về địa lyù , đa dạn hóa họat động hình thức sở hữu phát triển sản phẩm , thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, liên doanh…” (Fred R David, 2006, “Khái luận về quản trị chiến lược”, NXB Thống Kê) - Theo Michael E.
Porter: Chiến lược là sự tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm sự khác biệt hóa, sự lựa chọn mang tính đánh đổi nhằm tập trung nhất các nguồn lực để từ đó tạo ra ưu thế cho tổ chức ( GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân, 2011, “Quản Trị Chiến Lược”, XNB Thống Kê) - Theo tác giả, Chiến lược là hành động cụ thể để phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu nội tại và “lợi dụng” được cơ hội cũng như vượt qua những đe dọa từ bên ngoài để chiến thắng bản thân và chiến thắng đối thủ cạnh tranh nhằm đạt được mục tiêu mong muốn.2 Khái niệm về quản trị chiến lược - Theo Fred R. David “Quản trị chiến lược có thể được định nghĩa như là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan đến nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra. Như ta thấy trong định nghĩa này, quản trị chiến lược tập trung vào việc hợp nhất việc quản trị, tiếp thị, tài chính kế toán, sản xuất, nghiên cứu phát triển và các hệ thống thông LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tin, các lĩnh vực kinh doanh để đạt được thành công của tổ chức” (Fred R David, 2006, “Khái luận về quản trị chiến lược”, NXB Thống Kê) - Theo tác giả, Quản trị chiến lược là một quá trình phân tích các yếu tố liên quan đến khách hàng và đối thủ cạnh tranh (môi trường bên ngoài) và tổ chức nội bộ bên trong (môi trường bên trong) để cung cấp cơ sở cho việc đưa ra và duy trì các biện pháp quản lyù toái öu.2 Ý nghĩa của quản trị chiến lược - Giúp doanh nghiệp xác định rõ hướng đi của mình trong tương lai - Giúp các nhà quản trị thấy rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của doanh nghiệp, từ đó đưa ra được các quyết định đúng đắn, các chiến lược kinh doanh tốt hơn - Giúp tổ chức họat động hiệu quả hơn.3 Phân loại chiến lược Tùy theo tiêu thức phân loại mà người ta có thể chia chiến lược kinh doanh thành nhiều loại 1.1 Nhóm chiến lược về tăng trưởng: Các chiến lược thuộc nhóm này nhằm tăng thêm mức độ hoạt động của doanh nghiệp về số lượng và chất lượng. Được sử dụng khi trong kinh doanh có những thách thức mới hoặc có sự xuất hiện của những đối thủ mới nào đó trong cạnh tranh.
Nhóm này có 2 chiến lược chính: Chiến lược tăng trưởng tập trung: đây là chiến lược dựa trên cơ sở các dịch vụ hoặc thị trường hiện có sẽ thực hiện việc cải tiến hoặc mở rộng thêm mà không làm thay đổi bất kỳ yếu tố nào. Có thể kể ra như sau: - Chiến lược thâm nhập thị trường: tìm kiếm thị phần tăng lên cho các sản phẩm hiện tại và các dịch vụ trong các thị trường hiện có qua những nỗ lực tiếp thị nhiều hơn - Chiến lược phát triển thị trường: đưa các sản phẩm hiện có vào các khu vực mới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Chiến lược phát triển sản phẩm: tăng doanh số bằng việc cải tiến hoặc sửa đổi các sản phẩm hiện có Chiến lược tăng trưởng mở rộng: đây là loại chiến lược đặt trọng tâm vào việc đưa thêm các dịch vụ tài chính mới để tạo thêm thị trường mới hay mở rộng các lĩnh vực phi tài chính khác. Chiến lược này đòi hỏi phải mở rộng qui mô nguồn lực, kiến thức về nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác - Chiến lược đa dạng hóa đồng tâm: thêm vào các sản phẩm dịch vụ mới có liên hệ với nhau. Đối với ngành ngân hàng thì chiến lược đa dạng hóa đồng tâm nghĩa là thêm vào các dịch vụ mới để tạo ra thị trường mới xoay quanh các nhu cầu về tài chính (như các dịch vụ liên quan đến lĩnh vực chứng khoán, các dịch vụ tài chính phát sinh…) - Chiến lược đa dạng theo khối: thêm vào sản phẩm dịch vụ mới không có sự liên hệ với nhau.
Đối với ngành ngân hàng thì chiến lược đa dạng hóa theo khối nghĩa là phát triển kinh doanh sang các lĩnh vực khác không liên quan đến các nhu cầu về tài chính như: dịch vụ du lịch, vận chuyển hàng hóa. Chiến lược sáp nhập: tiến hành hợp nhất doanh nghiệp khác tạo thành doanh nghiệp mới về tên gọi, phát hành cổ phiếu mới, cơ cấu tổ chức mới và nhiều thay đổi khác. Chiến lược mua lại: doanh nghiệp mua lại doanh nghiệp khác bằng các mua lại cổ phần để nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp đó nhưng vẫn giữ tên gọi và cơ cấu tổ chức như cũ hoặc mua lại các công ty tài chính, chứng khoán để bổ sung thêm vào danh mục dịch vụ mới. Các đơn vị được mua lại là chi nhánh hay công ty thành viên của doanh nghiệp Chiến lược liên doanh: Chiến lược này diễn ra khi hai hay nhiều doanh nghiệp hợp lực để thực thi một vấn đề mà một doanh nghiệp riêng lẻ không làm được.
Có nhiều hình thức để tiến hành liên doanh: liên doanh quốc tế để vượt qua rào cản chính trị và văn hóa để có thể hợp pháp cạnh tranh trên thị trường quốc tế.2 Nhóm chiến lược thu hẹp hoạt động: là nhóm chiến lược nhằm giảm mức độ hoạt động của doanh nghiệp, được áp dụng trong điều kiện nền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 kinh tế đang bị khủng hoảng, suy thoái hoặc môi trường hoạt động kinh doanh biến đổi theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp hoặc trước đây doanh nghiệp đã áp dụng chiến lược phát triển nhưng không mang lại hiệu quả, một số lĩnh vực kinh doanh bị thua lỗ. Cắt giảm chi phí: nhằm sắp xếp lại hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn khi một số bộ phận nào đó có năng suất kém, làm cho chi phí quá cao hoặc do những khó khăn tạm thời liên quan đến điều kiện môi trường kinh doanh. Cắt giảm một số lĩnh vực kinh doanh: áp dụng khi doanh nghiệp muốn thu hồi vốn đầu tư ở những bộ phận kinh doanh không còn sinh lời hay muốn tập trung vốn cho một số hoạt động, lĩnh vực hay các trung tâm sinh lời cao, có triển vọng lâu dài, doanh nghiệp sẽ nhượng bán hoặc đóng cửa một số cơ sở kinh doanh trực thuộc Chiến lược thu hoạch: là việc tìm cách tối đa hóa đồng tiền thu về vì mục đích trước mắt, bất chấp hậu quả sau này. Ví dụ: tập trung thu hồi nợ vay, ngưng huy động vốn và cho vay, bán các tài sản của doanh nghiệp để tận thu nguồn vốn đến cùng.
Chiến lược giải thể: là chiến lược bắt buộc cuối cùng, ngưng toàn bộ hoạt động kinh doanh, chi trả lại tiền gửi cho công chúng và các khoản nợ để chấp nhận sự thất bại hoàn toàn.3 Nhóm chiến lược ổn định hoạt động: Nhóm chiến lược này không tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động của doanh nghiệp, chiến lược này được xây dựng để củng cố nguồn lực mà doanh nghiệp đang có, tạo nền tảng để doanh nghiệp thực hiện chiến lược kinh doanh 1.4 Nhóm chiến lược phối hợp: Đây là nhóm chiến lược phổ biến nhất hiện nay nhằm thực hiện nhiều chiến lược kể trên cùng một lúc ở các bộ phận các nhau của doanh nghiệp hoặc sử dụng chúng trong những thời gian khác nhau.2 Quy trình xây dựng chiến lược 1.1 Xác định nhiệm vụ, mục tiêu kinh doanh: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Nhiệm vụ của việc kinh doanh là tạo lập các ưu tiên, các chiến lược, các kế họach và việc phân bổ công việc. Đây là điểm khởi đầu cho việc thiết lập công việc quản lyù vaø nhất là việc thiết lập cơ cấu quản lyù. Để quản lyù chiến lược có hiệu quả thì điều quan trọng là phải xác định được nhiệm vụ, mục tiêu chiến lược của tổ chức. Tổ chức phát triển một cách thận trọng thì có mục tiêu kinh doanh cụ thể sẽ đảm bảo sự nhất quán trong các chính sách mang tính chiến lược của tổ chức, thiết lập một tiếng nói chung.2 Phân tích môi trường bên ngoài: 1.1 Khái niệm về môi trường bên ngoài và các khái niệm khác có liên quan - Môi trường bên ngoài: gồm những yếu tố, lực lượng, thể chế….
Xảy ra ở bên ngoài doanh nghiệp, doanh nghiệp không kiểm sóat được, nhưng có ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu quả họat động của doanh nghiệp. Gồm: môi trường vĩ mô và môi trường vi mô - Môi trường vĩ mô (môi trường tổng quát): là môi trường bao trùm lên họat động của tất cả các doanh nghiệp, có ảnh hưởng đến họat động của tất cả các doanh nghiệp, gồm các yếu tố vĩ mô như: điều kiện kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa – xã hội, kỹ thuật công nghệ. - Môi trường vi mô (môi trường ngành): là môi trường gắn trực tiếp với từng doanh nghiệp và phần lớn các họat động cạnh tranh của doanh nghiệp xảy ra trong môi trường này. Theo Michael Porter, môi trường vi mô gồm 5 nhân tố tác động: Mối đe dọa của những người gia nhập ngành, sức mạnh đàm phán của nhà cung cấp, sức mạnh đàm phán của người mua, mối đe dọa của sản phẩm thay thế và cường độ cạnh tranh giữa những doanh nghiệp hiện hữu trong ngành.2 Mục đích của việc kiểm sóat các yếu tố môi trường bên ngoài - Mục đích của việc kiểm sóat các yếu tố môi trường bên ngoài là phát triển một danh mục có giới hạn những cơ hội môi trường có thể mang lại lợi ích cho công ty và các mối đe dọa của môi trường mà công ty nên tránh.
Ta không thể phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.