CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 1.1 Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: 1.1 Khái niệm chiến lược kinh doanh: “Chiến lược kinh doanh của một ngân hàng là một chương trình hoạt động tổng thể và dài hạn nhằm tạo ra các bước phát triển nhất định của ngân hàng, là sự cam kết trước về các mục tiêu cơ bản, toàn diện mà một ngân hàng cần phải đạt được và sự phân bổ các nguồn lực quan trọng để đạt các mục tiêu đó trong tương lai” (3, 17) Chiến lược kinh doanh của một ngân hàng là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu của ngân hàng. Chiến lược không nhằm vạch ra một cách cụ thể làm thế nào để có thể đạt được những mục tiêu đó vì đó là nhiệm vụ của vô số các chương trình hỗ trợ và các chiến lược chức năng khác nhau. Chiến lược kinh doanh chỉ tạo ra những định hướng để hướng dẫn tư duy, hành động của các nhà quản trị. Hoạch định chiến lược kinh doanh ngân hàng là tất cả các công việc nhằm phát họa phương hướng hoạt động và chuẩn bị cho tương lai của một ngân hàng trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực hiện có và sẽ có trong phạm vi của môi trường được dự đoán nhằm đạt được tất cả các mục tiêu đã đề ra.
Xung quanh khái niệm về chiến lược kinh doanh có những khái niệm có liên quan chặt chẽ, đó là: - Bản báo cáo nhiệm vụ (Mission statement): báo cáo về mục đích phục vụ dài hạn thể hiện sứ mệnh kinh doanh của công ty bằng những sản phẩm dịch vụ mà tổ chức sẽ cung cấp cho các đối tượng khách hàng, giúp phân biệt tổ chức này với tổ chức khác. Nó mô tả những giá trị và những vấn đề ưu tiên của tổ chức, xác định chiều hướng phát triển tổng quát của một tổ chức. - Mục tiêu dài hạn (Perspective objectives): là những thành quả xác định của từng thời kỳ chiến lược mà một tổ chức tìm cách đạt được khi theo đuổi những TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 nhiệm vụ chính của mình. Mục tiêu dài hạn thường có thời hạn năm đến mười năm, phải mang tính thách thức và đo lường được.
Mục tiêu được xác định cho cả tổ chức và cho từng bộ phận của tổ chức. Mục tiêu dài hạn đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chiến lược. - Chiến lược (Strategy): là những phương pháp cơ bản nhất để đạt tới mục tiêu dài hạn. - Mục tiêu hàng năm (Annual objectives): là những cái mốc mà tổ chức phải đạt được để vươn tới các mục tiêu dài hạn.
Mục tiêu hàng năm đóng góp vai trò quan trọng trong việc thực thi chiến lược. - Các cơ hội (O – Opportunities) và nguy cơ (hay thách thức, T – Threats): đây là những yếu tố thuộc môi trường bên ngoài, ngoài tầm kiểm soát của tổ chức và có thể làm lợi hay gây hại đến tổ chức. Trong quản trị chiến lược kinh doanh, cần hình thành các chiến lược kinh doanh để tận dụng hết các cơ hội và tránh hay giảm các nguy cơ. - Các điểm mạnh (S- Strengths) và điểm yếu (W- Weakness): là những yếu tố nội bộ của tổ chức, trong phạm vi kiểm soát của tổ chức.
Những điểm mạnh hay điểm yếu được xác định trong mối liên hệ với các đối thủ cạnh tranh. - Các chính sách (Policies): chính sách cũng là những phương tiện quan trọng để đạt được các mục tiêu đề ra nhưng với phạm vi hẹp hơn, mang tính chức năng và tính linh hoạt hơn là chiến lược kinh doanh.2 Tác dụng của hoạch định chiến lược kinh doanh ngân hàng: Đây là cầu nối giữa hiện tại với tương lai của ngân hàng, đảm bảo cho việc hình thành một chiến lược có hiệu quả và một kết quả mong muốn. Giúp nhà quản trị có thể nhận ra và tận dụng các cơ hội sẵn có cũng như có thể thích nghi và ứng phó với những thay đổi của môi trường kinh doanh. Là định hướng giúp cho ngân hàng xác định được phương hướng hoạt động của mình, lĩnh vực nào là chủ yếu cần tập trung cao sức lực và lĩnh vực nào là thứ yếu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Là công cụ để kiểm tra hoạt động quản trị của ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng có tính đa dạng. Do vậy, việc kiểm soát các hoạt động đó phải thông qua những tiêu chuẩn đánh giá cụ thể.3 Các loại chiến lược kinh doanh: Trong thực tiễn hiện nay, các ngân hàng thường sử dụng các nhóm chiến lược sau: 1.1 Nhóm chiến lược tăng trưởng Nhóm chiến lược kinh doanh này nhằm tăng thêm mức độ hoạt động của ngân hàng về số lượng và chất lượng. Chiến lược này được sử dụng khi trong kinh doanh có những thách thức mới hoặc có sự xuất hiện của những đối thủ mới nào đó trong cạnh tranh.
Nhóm này có hai chiến lược chính: - Chiến lược tăng trưởng tập trung Đây là loại chiến lược trên cơ sở các dịch vụ hoặc thị trường hiện có sẽ thực hiện việc cải tiến hoặc mở rộng thêm mà không làm thay đổi bất kỳ yếu tố nào. Có thể kể ra như sau: Chiến lược thâm nhập thị trường: tìm kiếm thị phần tăng lên cho các sản phẩm hiện tại và các dịch vụ trong các thị trường hiện có qua những nỗ lực tiếp thị nhiều hơn. Chiến lược phát triển thị trường: đưa các sản phẩm hiện có vào các khu vực mới. Chiến lược phát triển sản phẩm: tăng doanh số bằng việc cải tiến hoặc sửa đổi các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có.
- Chiến lược tăng trưởng mở rộng Đây là loại chiến lược đặt trọng tâm vào việc đưa thêm các dịch vụ tài chính mới để tạo thêm thị trường mới hay mở rộng các lĩnh vực phi tài chính khác. Chiến lược này đòi hỏi phải mở rộng qui mô nguồn lực, kiến thức về nhiều lĩnh vực ngành nghề khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 - Chiến lược đa dạng hoá đồng tâm: nhằm thêm vào các dịch vụ mới để tạo ra thị trường mới xoay quanh các nhu cầu về tài chính (như các dịch vụ liên quan đến lĩnh vực chứng khoán, các dịch vụ tài chính phái sinh,…) - Chiến lược đa dạng theo khối: phát triển kinh doanh sang các lĩnh vực mới khác không liên quan đến các nhu cầu về tài chính như: dịch vụ du lịch, vận chuyển hàng hóa,… - Chiến lược sáp nhập Tiến hành hợp nhất với một ngân hàng khác tạo thành ngân hàng mới về tên gọi, phát hành cổ phiếu mới, cơ cấu tổ chức mới và nhiều thay đổi khác. - Chiến lược mua lại Ngân hàng mua lại một ngân hàng khác bằng cách mua lại cổ phần để nắm quyền kiểm soát ngân hàng đó nhưng vẫn giữ tên gọi và cơ cấu tổ chức như cũ hoặc mua lại các công ty tài chính, chứng khoán hay tín thác để bổ sung thêm vào danh mục dịch vụ mới.
Các đơn vị được mua lại là chi nhánh hay công ty thành viên của ngân hàng. - Chiến lược liên doanh Chiến lược này diễn ra khi hai hay nhiều ngân hàng hợp lực để thực thi một vấn đề mà một ngân hàng riêng lẻ không làm được. Có nhiều hình thức để tiến hành liên doanh: liên doanh quốc tế để vượt qua rào cản chính trị và văn hóa để có thể hợp pháp cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cho vay đồng tài trợ là phổ biến,.2 Nhóm chiến lược thu hẹp hoạt động Đây là nhóm chiến lược nhằm giảm mức độ hoạt động của ngân hàng, được áp dụng trong điều kiện nền kinh tế đang bị khủng hoảng, suy thoái hoặc môi trường hoạt động kinh doanh biến đổi theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng hoặc trước đây ngân hàng đã áp dụng chiến lược phát triển nhưng không mang lại hiệu quả, một số lĩnh vực kinh doanh thu lỗ. - Cắt giảm chi phí: nhằm sắp xếp lại hoạt động kinh doanh cho hiệu quả hơn khi một số bộ phận nào đó có năng suất kém làm cho chi phí quá cao hoặc do những khó khăn tạm thời liên quan đến điều kiện môi trường kinh doanh.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 - Cắt giảm một số lĩnh vực kinh doanh: áp dụng khi ngân hàng muốn thu hồi vốn đầu tư ở những bộ phận kinh doanh không còn sinh lời hay muốn tập trung vốn cho một số hoạt động, lĩnh vực hay các trung tâm đang sinh lời cao, có triển vọng lâu dài, ngân hàng sẽ nhượng bán hoặc đóng cửa một số cơ sở kinh doanh trực thuộc. - Chiến lược thu hoạch: là việc tìm cách tối đa hóa đồng tiền thu về vì mục đích trước mắt, bất chấp hậu quả sau này. Chẳng hạn, tập trung thu hồi các khoản nợ vay, ngưng huy động vốn và cho vay, bán các tài sản của ngân hàng để tận thu nguồn vốn đến cùng. - Chiến lược giải thể: đây là chiến lược bắt buộc cuối cùng, ngưng toàn bộ hoạt động kinh doanh, chi trả lại tiền gửi cho công chúngvà các khoản nợ để chấp nhận sự thất bại hoàn toàn.3 Nhóm chiến lược ổn định hoạt động Nhóm chiến lược này không tạo ra thay đổi đáng kề trong hoạt động của ngân hàng, chiến lược này được xây dựng để củng cố những nguồn lực mà ngân hàng đang có, tạo nền tảng để ngân hàng thực hiện chiến lược phát triển.4 Nhóm chiến lược phối hợp Đây là nhóm chiến lược phổ biến nhất hiện nay nhằm thực hiện nhiều chiến lược kể trên cùng một lúc ở các bộ phận khác nhau của ngân hàng hoặc sử dụng chúng trong những thời gian khác nhau.2 Các bước xây dựng chiến lược kinh doanh Xây dựng (hoạch định) chiến lược kinh doanh là giai đoạn đầu trong quá trình quản trị chiến lược.
Xây dựng chiến lược kinh doanh là quá trình thiết lập sứ mệnh kinh doanh, thực hiện điều tra nghiên cứu môi trường bên trong để xác định các mặt mạnh, mặt yếu; nghiên cứu môi trường bên ngoài để xác định cơ hội và nguy cơ; từ đó, đề ra các mục tiêu dài hạn, xây dựng và chọn lựa các chiến lược thay thế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp, công ty. Vì vậy, qui trình xây dựng chiến lược của ngân hàng cũng là quy trình xây dựng chiến lược của một doanh nghiệp, bao gồm 4 bước: xác định nhiệm vụ kinh doanh; phân tích môi trường bên ngoài; phân tích tình hình nội bộ; phân tích và lựa chọn chiến lược. Mỗi bước sẽ bao gồm các công việc chủ yếu như sau: 1.