Chương 1: Những vấn đề lý luận về công bố thông tin của Doanh nghiệp Nhà nước và chế độ pháp lý về công bố thông tin của doanh nghiệp Nhà nước Chương 2: Thực trạng pháp luật về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước và thực tiễn áp dụng hiện nay Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả pháp luật về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC VÀ CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. Những vấn đề lý luận về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nƣớc 1. Khái quát về doanh nghiệp nhà nước Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, không ít quốc gia đã đầu tư vào những ngành mà ngày nay người ta gọi là công nghiệp nặng, như khai khoáng, đóng tàu, luyện kim, giao thông và xây dựng các cơ sở hạ tầng khác. Các mỏ khai khoáng và công nghiệp luyện kim, công nghiệp đường sắt và chế tạo máy ở Nhật Bản trong thế kỷ XIX khởi đầu cũng thường do Chính phủ Minh Trị đầu tư, dần dà mới được chuyển sang cho tư nhân.
Quá trình này diễn ra theo xu hướng nhà nước sau khi đã can thiệp để nền công nghiệp phát triển đủ mạnh, sẽ từng bước rút lui dần. Tương tự như vậy, luyện kim, đóng tàu ở Hàn Quốc và Đài Loan thường cũng được bắt đầu bằng sở hữu nhà nước. Kinh tế công cộng cũng đã là động cơ chủ đạo của nền kinh tế Hoa Kỳ trong thời gian xây dựng cơ sở hạ tầng. Đường dây điện thoại đầu tiên của thế giới nối Baltimore với Washington năm 1842 là do chính phủ liên bang đầu tư.
Tòa án cho phép chính phủ liên bang can thiệp mạnh mẽ vào quan hệ thương mại giữa các bang, khuyến khích những nền công nghiệp hạ tầng (đường sắt, tàu điện ngầm), giám sát nền tài chính. Nói tóm lại, nhà nước có một vai trò trung tâm trong việc tạo ra tăng trưởng kinh tế ở những quốc gia phát triển này [15]. Chỉ có điều, vượt trước các nước nghèo hàng trăm năm trong xây dựng công nghiệp, các quốc gia giàu có ngày nay đã bước vào một giai đoạn mới để có thể định nghĩa lại vai trò của nhà nước trong một trật tự kinh tế mang tính cạnh tranh cao. Điều trớ trêu là, sau khi đã trở nên giàu có, Hoa Kỳ 7 và các nước công nghiệp phát triển khác thúc ép tư nhân hóa, hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào các lĩnh vực kể trên như bưu điện, đường sắt, đường bộ, hàng không, cho đến các cơ sở cung cấp điện, nước, viễn thông… Không chỉ thúc đẩy tư nhân hóa trong phạm vi quốc gia, những nước giàu có này còn thúc đẩy tư nhân hóa trên quy mô toàn thế giới, mở đường cho các công ty đa quốc gia của họ từng bước mua cổ phần trong các ngành hạ tầng ở những nước nghèo, từ viễn thông, ngân hàng, tài chính cho đến giao thông.
Nghịch lý này đang là một nguyên nhân dẫn đến làn sóng phản đối toàn cầu hóa, phản đối việc biến nước nghèo thành “thuộc địa kiểu hiện đại của tài phiệt quốc tế”. Do đó, có thể thấy, để thúc đẩy nền kinh tế, nhà nước đóng vai trò là một nhà đầu tư lớn, đầu tư vào những lĩnh vực không chỉ cần số lượng vốn lớn mà tư nhân không thể đảm đương mà còn là những ngành thiết yếu, quan trọng tới xây dựng cơ sở hạ tầng, nền tảng của công nghiệp hiện đại. Qua lịch sử phát triển của Nhà nước với vai trò của một nhà đầu tư lớn, can thiệp vào thị trường thông qua các doanh nghiệp mà nhà nước kiểm soát thông qua vốn sở hữu. Doanh nghiệp có vốn nhà nước được quan niệm khác nhau ở mỗi quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, vẫn có thể tìm thấy điểm chung của các nước là dựa vào sở hữu vốn.
Đó là doanh nghiệp có vốn nhà nước là các thực thể kinh tế thuộc sở hữu toàn bộ hay một phần của chính phủ mà phần lớn thu nhập của nó được tạo ra thông qua việc bán các hàng hóa, dịch vụ [5, tr. Doanh nghiệp có vốn nhà nước nhìn chung không phải một hình thức pháp lý cụ thể, mà là thuật ngữ để chỉ một loại hình doanh nghiệp gắn với vốn nhà nước. Trong đó, doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần chi phối thường được gọi là doanh nghiệp nhà nước. Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước ở các quốc gia cũng có sự khác nhau.
Có quốc gia quy định doanh nghiệp 100% vốn của nhà nước mới là doanh nghiệp nhà nước, nhưng có quốc gia quy định doanh nghiệp mà vốn nhà nước trên 50% đã là DNNN. Ở Việt Nam, các thời kỳ khác nhau quy định 8 về cũng khác nhau. Năm 1948 tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 104/SL, theo đó doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được gọi là doanh nghiệp quốc gia. Không thể nghi ngờ về vai trò to lớn của các xí nghiệp quốc doanh và cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung trong việc phân phối các nguồn lực kinh tế trong thời chiến tranh, song trong thời hòa bình, cách quản lý này đã mau chóng trở nên lỗi thời1.
Năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 388/HĐBT về Quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước và đặc biệt là đến năm 1995, Quốc hội đã ban hành Luật doanh nghiệp nhà nước. Điều 1 Luật DNNN 1995 quy định về khái niệm doanh nghiệp Nhà nước. Thời kỳ này, Việt Nam quan niệm doanh nghiệp nhà nước là những doanh nghiệp mà nhà nước đầu tư 100% vốn, hoạt động theo những quy định riêng tại Luật Doanh nghiệp nhà nước mà không chịu sự điều chỉnh của Luật Công ty 1990. Sau khi Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 được ban hành và có hiệu lực thì lại có cách hiểu khác về doanh nghiệp nhà nước.
Đó là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối. Thời kỳ đó, tồn tại song hành Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 và Luật doanh nghiệp 2005. Quá trình từ những năm 2000, Việt Nam đã tiến hành đàm phán để có thể gia nhập các tổ chức kinh tế toàn cầu như WTO. Vì vậy, để thống nhất “sân chơi” - một trong những đòi hỏi của WTO trong tiến trình đàm phán gia nhập tổ chức này, ngay tại Luật doanh nghiệp 2005 đã có quy định về lộ trình chuyển đổi công ty nhà nước theo hình thức cổ phần hóa.
Tiến trình chuyển đổi này, đặc biệt là việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được Nhà nước tiến hành một cách nghiêm túc; nhưng do thiếu quyết tâm cũng như do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nên 1 Phạm Thị Vân Tường & Nguyễn Thị Hải Bình (2012), “Mô hình quản lý đầu tư vốn Nhà nước - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” Sách Tài chính Việt nam 2011, NXB Tài chính. 9 công việc quan trọng này tính đến nay vẫn bị giới chuyên gia cho là được triển khai quá chậm, không đạt mục tiêu và kế hoạch đã đặt ra2. Tiến trình cổ phần hóa vẫn đang tiếp tục triển khai với nhiều khó khăn trên thực tế. Trong quá trình xây dựng Luật doanh nghiệp 2014, cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nêu rõ những bất cập của Luật doanh nghiệp 2005 về doanh nghiệp nhà nước, và để khắc phục các hạn chế này, Luật doanh nghiệp 2014 dành hẳn một chương để quy định về doanh nghiệp nhà nước với nhiều sự thay đổi đáng kể so với Luật doanh nghiệp 2005.
Khoản 8 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Theo giải thích của cơ quan soạn thảo Luật Doanh nghiệp 2014 thì sự thay đổi khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo luật này nhằm tránh sự can thiệp của Nhà nước vào những doanh nghiệp mà Nhà nước có vốn góp hoặc cổ phần chi phối khi vẫn quan niệm doanh nghiệp đó là doanh nghiệp nhà nước, tạo ra nhận thức mới những doanh nghiệp này không còn là doanh nghiệp nhà nước 3 không bị ràng buộc bởi “cơ chế nhà nước”. Hiện nay, Luật Doanh nghiệp 2020 không đưa ra khái niệm doanh nghiệp nhà nước mà chỉ đưa ra các hình thức pháp lý của doanh nghiệp và liệt kê gồm những loại nào tại Khoản 11 Điều 4 và Điều 88 Luật doanh nghiệp 2020. Luật doanh nghiệp 2020 đưa ra quan niệm về doanh nghiệp nhà nước phù hợp với quan niệm của đại đa số các quốc gia và các tổ chức quốc tế về doanh nghiệp nhà nước.
Luật doanh nghiệp 2020 đã thay thuật ngữ “doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” bằng thuật ngữ “doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”. Thuật ngữ này muốn chỉ rằng không có hình thức pháp lý riêng biệt cho 2 http://123.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&subtopic= 9&leader_topic=&id=BT21121258738 truy cập 10/2020. 3 Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, Doanh nghiệp nhà nước và méo mó thị trường, Nxb Tài chính, 2015, tr23 10 doanh nghiệp nhà nước, mà chỉ có doanh nghiệp có vốn Nhà nước được tổ chức theo các hình thức pháp lý đã được thiết kế trong luật. Sự thay đổi này cho thấy quan niệm về doanh nghiệp nhà nước phải dựa vào hình thức pháp lý chứ không dựa vào hình thức sở hữu.
Cách tiếp cận này đã chỉ rõ doanh nghiệp có vốn Nhà nước có thể tồn tại dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau, cho phép mở rộng tối đa có thể có những doanh nghiệp có vốn Nhà nước. Những thông tin thay đổi về định hướng phát triển, cơ cấu tổ chức điều hành, thay đổi về tài sản… của doanh nghiệp nhà nước là rất quan trọng trên thị trường và cần phải công bố một cách minh bạch, rõ ràng, tạo điều kiện cho mọi chủ thể có nhu cầu đều có thể kiểm tra, giám sát. Khái niệm, phân loại công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về thông tin.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì thông tin được hiểu là các điều hiểu biết, tri thức thu được qua nghiên cứu, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối tượng với nhau.