Chương I: Những vấn đề chung về thương nhân. Chương II: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thương nhân. Chương III: Một số bất cập và định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thương nhân ở Việt Nam hiện nay. Do hạn chế về khuôn khổ luận văn, thời lượng, nguồn tài liệu cũng như khả năng nhận thức của bản thân, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn.
5 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƢƠNG NHÂN 1.1 Khái niệm và đặc điểm về thƣơng nhân 1.1 Khái niệm về thƣơng nhân Thương nhân là một khái niệm quen thuộc trong lĩnh vực thương mại và đây cũng được coi là chủ thể chủ yếu của Luật thương mại. Khái niệm thương nhân luôn được xác định trong pháp luật của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng. Trước hết chúng ta tìm hiểu về khái niệm thương nhân được quy định trong hệ thống pháp luật thương mại của các quốc gia trên thế giới. Theo thực tế pháp luật hiện nay, mỗi quốc gia đều có những phương pháp định nghĩa khác nhau về khái niệm thương nhân.
Theo Điều 1 Luật thương mại Pháp 1807 - Bộ luật thương mại đầu tiên được pháp điển hóa trên thế giới thì “Thương nhân là những người thực hiện các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình.” Như vậy, luật thương mại Pháp định nghĩa thương nhân theo bản chất của chủ thể. Luật Pháp không quy định về trách nhiệm đăng ký kinh doanh mà chỉ quy định về loại hành vi thương mại mà chủ thể thực hiện để được coi là thương nhân. Ngoài việc thực hiện nhiều hành vi thương mại, chủ thể cần đáp ứng được điều kiện về những hành vi đó như “lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình”. Chỉ khi thực hiện các hành vi thương mại một cách thường xuyên, lâu dài mang tính chất nghề nghiệp (tức hoạt động kinh doanh mang tính ổn định, lâu dài, có sinh lời mang lại nguồn thu nhập chính cho chủ thể) thì chủ thể thực hiện hành vi đó mới được coi là thương nhân.
Luật thương mại Đức – một trong những bộ luật thương mại tiêu biểu trên thế giới đại diện cho họ pháp luật La Mã - Đức quy định về thương nhân có phần phức tạp hơn. Thương nhân theo định nghĩa của Bộ luật thương mại 6 z CHLB Đức là những người hành nghề kinh doanh. Hành nghề kinh doanh là bất kì cơ sở hành nghề nào mang lại lợi nhuận, ngoại trừ các doanh nghiệp mà căn cứ theo tính chất, phạm vi của nó không đòi hỏi phải thiết lập cơ sở để hoạt động kinh doanh (Khoản 2 Điều 1 Bộ luật thương mại Đức).[37] Doanh nghiệp hành nghề mà cơ sở hoạt động của nó chưa phải là hành nghề kinh doanh theo quy định trên vẫn được coi là hành nghề thương mại theo định nghĩa của Bộ luật này nếu hãng của doanh nghiệp có đăng ký trong danh bạ thương mại. Khi đã đăng ký thì việc xóa tên của hãng cũ có thể xảy ra theo đơn đề nghị của doanh nghiệp, trong trường hợp không có cơ sở theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Bộ luật thương mại.
Khi một hãng đã đăng ký trong danh bạ thương mại thì không thể bị ai đó dựa vào việc đăng ký để cáo buộc rằng cơ sở ngành nghề trực thuộc hãng không phải là cơ sở hành nghề thương mại (Điều 5 Bộ luật thương mại Đức). Các quy định đối với thương nhân cũng được áp dụng cho các công ty thương mại (Khoản 1 Điều 6 Bộ luật thương mại Đức).[37] Như vậy, theo Bộ luật thương mại Đức thì thương nhân là người thực hiện một cách tự chủ hoạt động ngành nghề kinh doanh, mục đích nhằm thu lợi nhuận. Tuy nhiên, công việc kinh doanh phải đạt phạm vi giao dịch và đòi hỏi một mức độ tổ chức doanh nghiệp nhất định (như thiết lập cơ sở hoạt động kinh doanh). Điều này không có ở những người kinh doanh nhỏ lẻ, với họ luật thương mại không có hiệu lực áp dụng.
Tuy nhiên, những người này vẫn có thể tự nguyện nhận được tự cách thương nhân khi đăng ký trong danh bạ thương mại. Đối với các công ty đối vốn và hợp tác xã thì bắt buộc phải dựa vào hình thức pháp lý là các thương gia. Tóm lại, luật thương mại của các nước theo họ Pháp luật La Mã - Đức quan niệm công ty thương mại là các thương nhân bởi hình thức. Theo đó, bất kỳ một thực thể có cơ sở để hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có tên hãng được đăng kí trong danh bạ thương mại hoặc những người kinh doanh nhỏ lẻ 7 z đăng ký tên trong danh bạ thương mại sẽ đều được coi là thương nhân và được điều chỉnh bởi pháp luật thương mại.
Theo pháp luật Hoa Kỳ - Đại diện cho họ pháp luật Anh-Mỹ, khái niệm “thương nhân (thương gia)” được định nghĩa trong Bộ luật Thương mại Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code -1990). Theo bộ luật này, có 3 loại hình thương nhân chủ yếu là cá nhân kinh doanh (sole propration), công ty đối nhân (partnership) và công ty đối vốn (corporation)[38]. Nhìn chung, thương nhân trong luật Hoa Kỳ bao gồm một nhóm người thực hiện các hoạt động kinh doanh hàng hóa như những công việc thường xuyên lâu dài của họ. Luật thương mại Hoa Kỳ không điều chỉnh với các loại hàng hóa là bất động sản và dịch vụ mà chỉ điều chỉnh với các loại hàng hóa động sản.
Pháp luật Việt Nam đã có những quy định về thương nhân từ những văn bản pháp luật về thương mại đầu tiên là Luật thương mại 1997 và sau đó là Luật thương mại 2005. Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định tại Khoản 6 Điều 5 về thương nhân như sau: “Thương nhân bao gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên”.[26] Sau quá trình sửa đổi, Luật thương mại 2005 định nghĩa lại về khái niệm thương nhân tại Điều 6 như sau: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”.[27] Từ quy định trên, ta có thể thấy Luật thương mại Việt Nam đang định nghĩa thương nhân theo kiểu hình thức. Theo đó, các chủ thể chỉ được công nhận là thương nhân khi đáp ứng đủ yêu cầu về hình thức như “tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân có đăng ký kinh doanh ”. Tư cách thương nhân được xác định dựa theo việc đăng ký với cơ quan nhà nước có 8 z thẩm quyền mà không căn cứ vào hoạt động thương mại do chủ thể kinh doanh thực hiện.
Tóm lại, các quốc gia trên thế giới hiện nay có những các thức định nghĩa về thương nhân rất khác nhau. Mỗi cách thức định nghĩa sẽ đem đến những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Với cách định nghĩa thương nhân theo bản chất hành vi thương mại, các quốc gia này cần xác định rõ căn cứ để nhận biết hành vi thương mại trong rất nhiều loại hành vi được các thương nhân thực hiện trong đời sống kinh tế xã hội. Bên cạnh đó, với các quốc gia xác định tư cách thương nhân bằng hình thức đăng ký hoạt động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì việc nhận biết tổ chức nào là thương nhân là một vấn đề tương đối phức tạp và còn nhiều vấn đề cần tranh cãi.
Ví dụ trong pháp luật Việt Nam, thương nhân bao gồm “các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp.” nhưng Luật Thương mại lại chưa đưa ra được định nghĩa về tổ chức kinh tế. Và thực tế hiện nay có những loại tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật như “Hợp tác xã” nhưng không được coi là thương nhân. Vấn đề này sẽ được tác giả bàn luận sâu hơn ở những chương sau của luận văn.2 Đặc điểm về thƣơng nhân Từ việc xem xét các khái niệm về thương nhân như trên, ta có thể đưa ra một số đặc điểm chung nhất về thương nhân như sau Trước hết, thương nhân là những người thực hiện các hành vi thương mại và coi đó như nghề nghiệp của mình. Mỗi cá nhân tồn tại trong xã hội khi đủ tuổi vị thành niên hầu hết đều có một nghề nghiệp riêng.
Nghề nghiệp chính là những hoạt động thường xuyên, lâu dài, mang lại những nguồn lợi nhất định là nguồn sinh sống cho cá nhân và gia đình của chủ thể đó. Số lượng hành vi thương mại do một chủ thể thực hiện không đem lại tư cách thương nhân cho chủ thể. Một chủ thể chỉ 9 z được coi là thương nhân khi thực hiện một hoạt động thương mại lặp đi lặp lại mang tính chất nghề nghiệp thường xuyên và có sinh lời. Thứ hai, thương nhân hoạt động thương mại một cách độc lập.
Trong quá trình hoạt động thương mại, thương nhân có thể trực tiếp thực hiện các hành vi thương mại hoặc ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện hành vi thương mại đó. Tuy nhiên, mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động mà người được ủy quyền thực hiện do ủy quyền thì đều thuộc về người ủy quyền. Điều này được hiểu là người làm công, người quản lý được trả công đều không phải là thương nhân. Ngược lại, người thuê và quản lý một cơ sở kinh doanh để kinh doanh mới là thương nhân.
Thương nhân là chủ thể chịu trách nhiệm với toàn bộ quyền và nghĩa vụ của cơ sở kinh doanh do mình làm chủ. Ngoài ra, đối với một số nước có quy định công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản là pháp nhân – hoạt động của những công ty này được nhà nước bảo hộ như những doanh nghiệp khác thì những thành viên của công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản dù những hoạt động của họ vì lợi ích chung của cả công ty nhưng họ vẫn được coi là thương nhân vì họ phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty. Thứ ba, thương nhân hoạt động phải có đăng ký kinh doanh. Đặc điểm này được áp dụng với những quốc gia quy định về thương nhân theo hình thức.
Ở những quốc gia này, để trở thành thương nhân chủ thể thực hiện hành vi thương mại cần đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chỉ khi có đăng ký kinh doanh, chủ thể sẽ được công nhận tư cách thương nhân và được nhà nước thừa nhận, bảo hộ quyền lợi hợp pháp của mình trong đời sống kinh doanh.