Chương 1: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long giai đoạn 2015-2017 Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long 6 CHƢƠNG 1 CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪATẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm phần lớn trong tổng số doanh nghiệp và đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, kích thích phát triển kinh tế, gia tăng tổng sản phẩm quốc nội. Theo thống kê, đến năm 2017 số lƣợng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam là 509.194 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm tới 97,5% số lƣợng doanh nghiệp, trong đó số lƣợng doanh nghiệp siêu nhỏ là 74%, doanh nghiệp nhỏ là 22,4%, doanh nghiệp vừa là 1,6%, tạo ra việc làm cho 5,09 triệu lao động, đóng góp 34% vào tổng thu ngân sách Nhà nƣớc và đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của quốc gia.
Tuy nhiên, trên thế giới và tùy thuộc vào mỗi nƣớc khác nhau lại có định nghĩa và phân loại khác về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo WorldBank, tiêu chí phân loại DN nhỏ và vừa nhƣ sau: Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Worldbank Quy mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Siêu nhỏ < 10 < $ 100.000 Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ < $ 10.000 7 (Nguồn: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ: Bài học kinh nghiệm của các nƣớc và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội, Vũ Quốc Tuấn)Worldbank dựa theo 4 tiêu chí để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa: + Số lƣợng nhân viên + Doanh thu hàng năm + Quy mô vay + Quy mô tổng tài sản Nghiên cứu một số cách phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các quốc gia trên thế giới, có thể thấy doanh nghiệp nhỏ và vừa: + Có quy mô không lớn về mặt vốn, lao động hoặc doanh thu. + Đƣợc xác định dựa trên các tiêu chí: Số lao động; doanh thu hàng năm; tổng tài sản. Việc phân loại loại hình doanh nghiệp còn dựa trên lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh - đây là các tiêu chí có tính định hƣớng để luận văn làm rõ các tiêu chí cụ thể khi xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam.
Giai đoạn trƣớc năm 2009, Tại Việt Nam chƣa có khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà chủ yếu phân loại doanh nghiệp theo 2 nhóm: doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Sau đó, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ ra đời đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc xác định loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa. Năm 2009, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 20/6/2009 của Chính phủ ra đời, quy định rõ ràng hơn trong cách xác định loại hình doanh nghiệp này. Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ban hành ngày 12/06/2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.
Tới ngày 11/03/2018, Chính phủ ban hành nghị định số 39/2018/NĐ-CP để thay thế nghị định số 56/2009/NĐ- CP ngày 20/6/2009 thay đổi một số tiêu chí trong việc xác định loại hình doanh nghiệp này. Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật, đƣợc chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tƣơng đƣơng tổng tài sản đƣợc xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc tổng doanh thu (doanh thu đƣợc xác 8 định trong báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp) và số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên)”.2: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP Quy mô Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Khu vực I. Nông, tổng doanh Số lƣợng tổng doanh Số lƣợng tổng doanh Số lƣợng lâm thu của năm lao động thu của lao động từ thu của năm lao độngtừ nghiệp và không quá 3 10 ngƣời năm không trên 10 không quá trên 100 thủy sản, t đồng hoặc trở xuống quá 50 t ngƣời đến 200 t đồng ngƣời đến Công tổng nguồn đồng hoặc 100 ngƣời hoặc tổng 200 ngƣời nghiệp và vốn không tổng nguồn nguồn vốn xây dựng quá 3 t vốn không không quá đồng. quá 20 t 100 t đồng đồng II.
tổng doanh Số lƣợng tổng doanh Số lƣợng tổng doanh Số lƣợng Thƣơng thu của năm lao động thu của lao động từ thu của năm lao động từ mại và không quá 10 ngƣời năm không trên 10 không quá trên 50 dịch vụ 10 t đồng trở xuống quá 100 t ngƣời đến 300 t đồng ngƣời đến hoặc tổng đồng hoặc 50 ngƣời hoặc tổng 100 ngƣời nguồn vốn tổng nguồn nguồn vốn không quá 3 vốn không không quá t đồng. quá 50 t 100 t đồng đồng Nhƣ vậy, một tổ chức đƣợc xác định là một doanh nghiệp nhỏ và vừa khi: + Là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật. + có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 ngƣời 10 + Đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: Tổng nguồn vốn không quá 100 t đồng hoặc tổng doanh thu của năm trƣớc liền kề không quá 300 t đồng. Khác với nghị định 56/2009/NĐ-CP, Tại nghị định 39/2018/NĐ-CP có một số điểm thay đổi nhƣ sau: + Tiêu chí xác định loại hình doanh nghiệp (siêu nhỏ, nhỏ hay vừa) đối với từng ngành nghề khác nhau thì khác nhau.
Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thƣơng mại và dịch vụ, yêu cầu về số lƣợng lao động ít hơn nhƣng yêu cầu về tổng doanh thu và tổng nguồn vốn laị cao hơn so với doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông nghiệp hoặc công nghiệp và xây dựng, lâm nghiệp và thủy sản. + Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa đƣợc xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thƣơng mại và dịch vụ. Khác với một số nƣớc trên thế giới, ở Việt Nam theo nghị định 56/2009/NĐ- CP, doanh thu không đƣợc lựa chọn là một tiêu chí để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa, bởi vì doanh thu của các doanh nghiệp Việt Nam còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: nhu cầu của thị trƣờng, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát - những yếu tố này chƣa ổn định, có sự biến động lớn qua các năm, do vậy doanh thu của các doanh nghiệp biến đổi nhanh chóng nên không đƣợc sử dụng là tiêu chí xác định loại hình doanh nghiệp. Trong phạm vi luận văn này, Việc thực hiện đánh giá chất lƣơng tín dụng của Ngân hàng Đầu tƣ và phát triển Việt Nam – CN Thăng Long dựa trên tình hình hoạt động và báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn năm 2015-2017, khi đó Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14 ban hành ngày 12/06/2017 và nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 chƣa có hiệu lực.
Vậy nên, Khi đánh giá thực trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa các tiêu chí phân loại đƣợc quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ đƣợc lựa chọn cho việc nghiên cứu đề tài 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ 11 Với lƣợng vốn đầu tƣ giới hạn là 100 t và số lƣợng lao động tối đa là 300 ngƣời, doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ thành lập, dễ gia nhập thị trƣờng, khả năng thu hồi vốn nhanh, phát triển trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, nguồn vốn chủ yếu là vốn chủ sở hữu doanh nghiệp, khoản chiếm dụng của ngƣời bán, khoản trả trƣớc của khách hàng hoặc các nguồn vốn phi chính thức khác; khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng hoặc các nguồn vốn trên thị trƣờng chứng khoán khá hạn chế - có thể do nhiều nguyên nhân nhƣ vấn đề tài sản đảm bảo, phƣơng án sản xuất kinh doanh, vấn đề minh bạch thông tin.nên tiềm lực tài chính của các DNNVV thấp, khả năng đầu tƣ vào công nghệ kỹ thuật, máy móc thiết bị, nhà xƣởng bị giới hạn và khó khăn cho mở rộng thị trƣờng. Thứ hai, các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động ở ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh phong phú.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể hoạt động trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Trong mỗi ngành nghề DNNVV với quy mô nhỏ và nguồn lực hạn chế nên chỉ tham gia vào một khâu trong chuỗi giá trị của một sản phẩm. Điều này đỏi hỏi các cán bộ ngân hàng phải có kiến thức rộng và tổng thể để đáp ứng yêu cầu cầu công việc. Với vốn đầu tƣ ban đầu ít, bộ máy quản lý đơn giản, chỉ tập trung vào một khâu trong chuỗi giá trị của một sản phẩm các DNNVV có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tƣ; phát triển nhanh chóng đáp ứng đƣợc các nhu cầu đa dạng của thị trƣờng, góp phần thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế.
Thứ ba, hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc vào biến động của môi trường kinh doanh Nền tảng vốn mỏng, hoạt động sản xuất kinh doanh mang nặng tính thời vụ, thiếu chiến lƣợc kinh doanh dài hạn dẫn đến tính ổn định của DNNVV tƣơng đối thấp. Chính vì vậy, những thay đổi trong môi trƣờng kinh tế vĩ mô và môi trƣờng kinh doanh thƣờng có những ảnh hƣởng đáng kể đến hoạt động của DNNVV. Tuy vậy, DNNVV năng động, linh hoạt trƣớc những sự thay đổi của thị trƣờng, đặc biệt là những nhu cầu nhỏ lẻ do DNNVV có khả năng chuyển hƣớng kinh doanh và chuyển hƣớng mặt bằng nhanh; tăng, giảm lao động dễ dàng. 12 Thứ tư, trình độ công nghệ kỹ thuật chưa hiện đại và năng lực cạnh tranh hạn chế Xuất phát từ tiềm lực tài chính nhỏ nên DNNVV hạn chế trong việc đầu tƣ nâng cấp, đổi mới trang thiết bị không thƣờng xuyên so với các doanh nghiệp lớn, dẫn tới việc sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao.
Trình độ, kĩ năng của ngƣời lao động chƣa cao nên khả năng tiếp cận với công nghệ, máy móc hiện đại bị giới hạn.