Mở đầu Giới thiệu sơ lƣợc về đề tài, mục tiêu và nội dung của Luận văn, tính cần thiết, ý nghĩa nghiên cứu và cấu trúc chính của Luận văn. - Chƣơng 2: Tổng quan nghiên cứu Giới thiệu các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về phƣơng pháp trở kháng cơ điện và các nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài. - Chƣơng 3: Cơ sở lý thuyết Cơ sở lý thuyết về phƣơng pháp trở kháng, các công cụ hỗ trợ mô phỏng và phƣơng pháp đánh giá hƣ hỏng của kết cấu. - Chƣơng 4: Ví dụ số Trình bày chi tiết các bài toán (bài toán kiểm chứng, bài toán ứng dụng thực tế) đồng thời đƣa ra các kết luận về các kết quả đạt đƣợc sau khi xử lý và phân tích số liệu.
- Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị Kết luận chung cho các kết quả đã thu nhận đƣợc và các kiến nghị cho hƣớng phát triển của đề tài. - Tài liệu tham khảo sử dụng trong Luận văn HVTH: Nguyễn Vĩnh Thắng Trang 7 Luận văn thạc sĩ Xây dựng Công trình Dân dụng & Công nghiệp CHƢƠ G 2. TỔ G QUA GHIÊ CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ăm 1994, lần đầu tiên Liang và cộng sự đã giới thiệu phƣơng pháp phân tích trở kháng cho kết cấu.
Họ đã rút ra đƣợc sự liên quan giữa trở kháng động lực học của miếng PZT với trở kháng cơ của kết cấu chủ và chứng minh nó bằng nhiều thí nghiệm khác nhau. Nghiên cứu đã sử dụng tần số kích thích cao loại lớn hơn 30kHz thông qua bề mặt liên kết tấm PZT để tìm ra những thay đổi cơ học trong trở kháng cơ của kết cấu chủ. ăm 1995, Sun và các cộng sự đã tiến hành thực hiện các phép đo thử nghiệm thông qua cảm biến áp điện trở kháng. Sun và các cộng sự đã sử dụng phƣơng pháp trở kháng để kiểm tra kết cấu giàn bằng cách sử dụng thuật toán thống kê để đánh giá tình trạng hƣ hỏng.
Ngoài ra Sun và các cộng sự cũng đã nghiên cứu ảnh hƣởng của phạm vi tần số khác nhau và mức độ kích thích. Kết quả cho thấy ở các vị trí khác nhau, nên sử dụng các PZT khác nhau để theo dõi kết cấu, ở miền tần số càng cao phạm vi theo dõi kết cấu càng nhỏ. Đồng thời, chỉ số RMSD rất hữu dụng trong việc phát hiện xảy ra hƣ hỏng trong kết cấu. ăm 1995, Chaudhry và các cộng sự đã sử dụng phƣơng pháp trở kháng để tìm hƣ hỏng của kết cấu trên một chiếc máy bay mã hiệu Piper Model 601P.
Các cảm biến trong nghiên cứu này đã đƣa ra cả vị trí và khoảng cách hƣ hỏng. Các cảm biến trở kháng cho thấy các tín hiệu cực kỳ nhạy cảm với mức độ hƣ hỏng cục bộ qua đó chứng minh đƣợc khả năng làm việc và mức độ ảnh hƣởng của khoảng cách đến sự làm việc của tín hiệu trở kháng. ăm 1996, Wang và các cộng sự mở rộng nghiên cứu trƣớc đó của Liang và các cộng sự (1994) cho sử dụng nhiều bộ kích thích PZT đƣợc dán lên kết cấu cả hai mặt và chứng thực khả năng cảm biến và kích thích của chúng, dựa vào việc theo dõi sự dẫn nạp điện trên trở kháng kết cấu, họ chứng minh rằng nó có khả năng tìm ra ứng xử của kết cấu thông qua việc đo trở kháng điện của PZT ăm 1996, Esteban mở rộng mô hình số dựa vào lý thuyết truyền sóng để xác định phạm vi cảm biến của phƣơng pháp trở kháng. Trong nghiên cứu của Esteban bao gồm nghiên cứu tham số trên khu vực cảm biến của một bộ cảm biến PZT/ thiết bị truyền động bởi xem xét những thay đổi của những hệ số và hình học HVTH: Nguyễn Vĩnh Thắng Trang 8 Luận văn thạc sĩ Xây dựng Công trình Dân dụng & Công nghiệp nhƣ là ảnh hƣởng của tải khối lƣợng, sự không liên tục trong mặt cắt ngang, liên kết bulông, năng lƣợng xen kẽ trong các lớp liên kết.
Đo chính xác tại phạm vi tần số cao và xác định năng lƣợng tiêu hao trở nên khó khăn và ít thông tin đƣợc thu thêm. Nhìn chung, phạm vi cảm biến của trở kháng có quan hệ gần đặc trƣng vật liệu của kết cấu chủ, hình học, phạm vi tần số đƣợc sử dụng và đặc trƣng vật liệu của PZT. Dựa trên những kiến thức thu đƣợc thông qua nghiên cứu các trƣờng hợp khác nhau, ngƣời ta đã ƣớc tính rằng các khu vực cảm biến của một PZT có thể thay đổi từ 0,4 m (bán kính cảm biến) trên kết cấu composite đến 2m trên thanh kim loại đơn giản. Tần số dao động cao hơn 500 kHz cho thấy không có lợi, bởi vì các khu vực cảm biến trở nên vô cùng nhỏ và các cảm biến PZT hiển thị nhạy cảm với các điều kiện bất lợi liên kết hoặc chính bản thân PZT chứ không phải là ứng xử của kết cấu đƣợc theo dõi.
ăm 1997, Wang và các cộng sự thể hiện một mô hình toán học diễn tả sự tƣơng thích của biến dạng giữa miếng PZT và một dầm hoặc tấm. Quan hệ giữa điện dung tĩnh của PZT và biến dạng của kết cấu đƣợc thiết lập và biến dạng của kết cấu đƣợc nhận thấy từ những thay đổi điện dung của PZT. ăm 1997, Gaul đã đƣa ra bán chủ động liên kết bởi sử dụng thiết bị truyền động áp điện. Thiết bị truyền động đã đƣợc sử dụng để điều khiển lực đặt trong liên kết bulông cũng nhƣ ngăn cản dao động trong kết cấu dựa vào việc điều chỉnh ma sát.
ăm 1998, Raju và các cộng sự mở rộng nghiên cứu sâu hơn cho ảnh hƣởng của tham số trở kháng nhƣ mức độ kích thích của bộ kích thích tín hiệu, chiều dài dây dẫn, sử dụng một dây duy nhất để gắn vào nhiều bộ cảm biến, và thay đổi điều kiện biên. Raju đã kết luận rằng sự thay đổi trong nhiều tham số không ảnh hƣởng đáng kể đến tín hiệu trở kháng. ăm 2000, Soh và các cộng sự sử dụng phƣơng pháp trở kháng cho việc theo dõi một mẫu cầu bê tông cốt thép. Nghiên cứu bao gồm hai dầm dọc (5m x 0,25m x 1m) đỡ một sàn dày 0,1m.
Kết cấu này đƣợc gia cƣờng bằng các thanh thép, đã phải chịu ba chu kỳ tải để gây ra vết nứt trong kết cấu. Tín hiệu của các cảm biến trở kháng nằm trong vùng lân cận của hƣ hỏng đã cho thấy thay đổi lớn về tín hiệu, trong khi những hƣ hỏng ở xa là ít bị ảnh hƣởng. Nếu có bất kỳ hƣ hỏng của chính miếng PZT hoặc lớp liên kết, tín hiệu có thể cho thấy một sự thay đổi đột HVTH: Nguyễn Vĩnh Thắng Trang 9 Luận văn thạc sĩ Xây dựng Công trình Dân dụng & Công nghiệp ngột hoặc xu hƣớng không ổn định mà không có đỉnh khác biệt trong đáp ứng tần số. ăm 2000, Park và các cộng sự nghiên cứu mô hình cầu thép bao gồm thép góc, thép chữ C, thép tấm, và đƣợc liên kết với nhau bởi hơn 200 con bulông.
Kích thƣớc của kết cấu này là cao 1,8m và nặng hơn 250kg. ghiên cứu đƣợc thực hiện dƣới các điều kiện môi trƣờng không kiểm soát đƣợc nhƣ thay đổi tải khối lƣợng của kết cấu (Mass Loading), nhiệt độ môi trƣờng (Temperature) và hoạt động dao động (Operational Vibration). Từ đó đã cho thấy phƣơng pháp trở kháng có thể phát hiện và phân biệt nhiều dạng hƣ hỏng khác nhau. Có thể xác định hƣ hỏng của liên kết bulông (bulông bị nới lỏng) dựa vào cảm biến để tìm ra hƣ hỏng trong kết cấu.
gày nay phƣơng pháp trở kháng đã đƣợc sử dụng để tìm ra những hƣ hỏng trong kết cấu. Cho thấy sự thuận lợi của phƣơng pháp trở kháng cũng nhƣ lý thuyết về vật liệu áp điện dựa vào cảm biến. Hơn nữa, phƣơng pháp trở kháng cũng đƣợc sử dụng để nghiên cứu liên kết bulông trong kết cấu đƣờng ống của Park và các cộng sự (2001). ăm 2002, Xu và iu đã nghiên cứu ảnh hƣởng của lớp liên kết trong tƣơng tác động giữa tấm PZT và kết cấu chính.
Nghiên cứu này cho thấy rằng ảnh hƣởng của điều kiện liên kết để đạt đƣợc nhiều kết quả chính xác. Mặc dù nó khó đo đƣợc độ cứng của lớp liên kết (giữa tấm PZT và kết cấu chủ). Cũng trong năm 2002, Bois và Hochard thực hiện thí nghiệm và mô hình trong việc sử dụng phƣơng pháp trở kháng để tìm ra phân lớp của kết cấu composite. Họ chứng minh khả năng xác định kích thƣớc và vị trí của phân lớp dựa vào quy luật cơ bản trở kháng cơ điện 3D của vật liệu PZT ăm 2003, Park và các cộng sự sử dụng cảm biến trở kháng để tìm và sửa chữa sự nới lỏng của liên kết bulông trong kết cấu.
Cảm biến áp điện (Piezoelectric Sensor) đƣợc sử dụng để đo trở kháng của kết cấu. Sự nới lỏng của bulông đã đƣợc xác định giữa bulông và đai ốc. Phƣơng pháp trở kháng này chỉ tìm những thay đổi tín hiệu trở kháng trong một giới hạn cảm biến. Cho nên, phƣơng pháp này không thích hợp cho nghiên cứu hƣ hỏng trong phạm vi rộng.
Gần đây, đo cảm biến chủ động áp điện (Piezoelectric Active Sensing Measurements) đòi hỏi hệ thống thu dữ liệu lớn và đắt tiền hoặc máy phân tích trở kháng. Đo trở kháng trong giai đoạn trƣớc và sau hƣ hỏng để xác định vị trí của hƣ hỏng hoặc mức độ hƣ hỏng. HVTH: Nguyễn Vĩnh Thắng Trang 10 Luận văn thạc sĩ Xây dựng Công trình Dân dụng & Công nghiệp ăm 2011, guyễn và Kim đã công bố một nghiên cứu về phƣơng pháp theo dõi chẩn đoán cho các kết cấu mối nối bu lông sử dụng cảm biến trở kháng không dây đa kênh và PZT đa diện. Các bƣớc sau đã đƣợc thực hiện để hoàn thành thí nghiệm: - Thứ nhất, một PZT đa diện đƣợc thiết kế để theo dõi sự nới lỏng trong kết nối bu lông dựa trên sự thay đổi tín hiệu trở kháng cơ điện (EM).
- Thứ hai, một nút cảm biến trở kháng không dây đƣợc thiết kế để tự hoạt động, có chi phí thấp và đa kênh theo dõi. ền tảng cảm biến Imote2 đƣợc chọn sử dụng vì cơ sở điều hành tốc độ cao của nó, yêu cầu điện năng thấp và bộ nhớ lƣu trữ lớn. Cuối cùng, hiệu suất của các nút cảm biến không dây và PZT - giao diện đƣợc đánh giá bằng thực nghiệm cho một mô hình kết nối bu lông. Phƣơng pháp đánh giá hƣ hỏng đƣợc sử dụng là RMSD.
ăm 2012, Bhalla và các cộng sự sử dụng trở kháng trong nghiên cứu đánh giá về biến dạng mỏi dƣ của mối nối bu lông trong kết cấu thép bằng cách sử dụng độ cứng tƣơng đƣơng.