Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu. Chương này trình bày sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, nêu rõ mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và bố cục của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Nội dung của chương gồm những khái niệm liên quan, cơ sở lý thuyết và các công trình nghiên cứu thực nghiệm từ đó tìm ra hướng nghiên cứu của đề tài này.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày khái quát về quy trình, xác định mẫu, các thông tin về mẫu, cách thức thu thập mẫu, các phương pháp sử dụng để phân tích dữ liệu. Sử dụng hệ số tương quan để xem xét sự phù hợp của các 6 biến nghiên cứu khi đưa vào mô hình hồi quy và cuối cùng thực hiện các hồi quy: Pooled OLS, REM, FEM cũng như thực hiện các kiểm định liên quan và cần thiết. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương này trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu chính thức, gồm các thống kê mô tả từ kết quả thu thập về thông tin mẫu, phân tích tương quan giữa các biến, kết quả các kiểm định đã thực hiện và kết quả hồi quy về sự tác động của cấu trúc vốn đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp ngành XDBĐS niêm yết trên HOSE. Chương 5: Kết luận và một số kiến nghị. Chương này trình bày tóm tắt nghiên cứu và những kết quả mà nghiên cứu đạt được. Ngoài ra, nội dung chương còn bao gồm một số hàm ý về giải pháp giúp nhà quản trị tại các doanh nghiệp thuộc ngành XDBĐS TP.
HCM nâng cao được hiệu quả sử dụng cấu trúc vốn; những hạn chế của nghiên cứu và kiến nghị các hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM Trong chương này, tác giả sẽ trình bày những khái niệm liên quan đến nghiên cứu này, các lý thuyết liên quan và lý thuyết nền của nghiên cứu mà tác giả lựa chọn phù hợp với đề tài này. Cuối cùng là tổng quan các công trình nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài cũng như trong nước từ đó rút ra được ngách nghiên cứu cho đề tài.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Cấu trúc vốn Theo Abor, (2005) thì “Cấu trúc vốn của một doanh nghiệp thực chất là hỗn hợp giữa nhiều loại vốn khác nhau”. Doanh nghiệp có thể chọn cho họ một cấu trúc vốn với nhiều sự thay thế, kết hợp khác nhau từ việc sử dụng nhiều hay ít nợ, thuê tài chính, chứng quyền, phát hành trái phiếu chuyển đổi, ký kết hợp đồng kỳ hạn, hoặc có thể phát hành các loại chứng khoán khác nhau.
Nghĩa là doanh nghiệp có vô số các kết hợp với hàng chục loại chứng khoán phát hành riêng biệt để cố gắng tìm ra một kết hợp cụ thể có thể tối đa hóa giá trị thị trường tổng thể của nó. Theo Ahmad et al., (2012) thì “Cấu trúc vốn là quan hệ tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong nguồn vốn của doanh nghiệp để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh”. Cùng quan điểm với Ahmad, Pouraghajan & Malekian, (2012), Addae et al., (2013) cũng cho rằng cấu trúc vốn là nguồn tài chính hỗn hợp của doanh nghiệp cấu thành từ nợ và vốn chủ sở hữu tạo nên nguồn tài sản của doanh nghiệp. Nguyen Thanh Cuong, (2014) cũng nhận định cấu trúc vốn của một doanh nghiệp được xem xét như là một hỗn hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp dùng để điều hành.
Hasan et al., (2014) cho rằng: “Cấu trúc vốn của doanh nghiệp là sự kết hợp của nợ dài hạn, nợ ngắn hạn, vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi và các nguồn vốn khác được dùng để tài trợ cho hoạt động điều hành và phát triển”. Nói cách khác, cấu trúc vốn là sự kết hợp của nhiều loại nguồn vốn khác nhau mà doanh nghiệp dùng cho hoạt động kinh doanh. 8 Như vậy, phần lớn các chuyên gia đều cho rằng cấu trúc vốn là tỷ trọng của nợ và vốn chủ sở hữu so với nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.2 Khả năng sinh lợi Siminica & Stefan, (2011) phát biểu rằng khả năng sinh lợi của một hoạt động thể hiện ở khả năng tạo ra thu nhập để trang trải những khoản của chính những hoạt động đó và dẫn đến việc đạt được thu nhập ròng, bất kể loại hình hay tính chất mà nó được phân loại trong các cấp kinh tế vi mô tùy theo mức lợi nhuận của nó. Theo Bauer (2004) trích bởi Chechet & Olayiwola, (2014) thì KNSL của một doanh nghiệp đo bằng chính lợi nhuận của doanh nghiệp trong những năm hoạt động.
Từ quan điểm lý thuyết đại diện cho rằng các doanh nghiệp có lợi nhuận càng cao thì càng nên dùng nhiều đòn bẩy vì những lợi ích thu được từ lá chắn thuế hay nói cách khác quan điểm này cho rằng lợi nhuận càng nhiều càng nên dùng nhiều nợ. Addae et al., (2013) cho rằng các thuật ngữ như giá trị doanh nghiệp, giá trị cổ đông, sự giàu có của cổ đông, hay khả năng sinh lợi đều có thể thay thế cho nhau trong nghiên cứu của họ vì các thuật ngữ này đều được cấu thành thước đo cho sự tạo ra tài sản cho cổ đông. Các nhà quản lý nên đưa ra các quyết định về cấu trúc vốn mà có thể mang lại lợi ích lớn nhất cho cổ đông. Những quyết định sai về cấu trúc vốn sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp từ đó làm giảm đi giá trị của cổ đông.
Gill et al., (2011) phát biểu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là không thể bỏ qua bởi vì cải thiện KNSL của doanh nghiệp là cần thiết cho sự sống còn về lâu dài của doanh nghiệp. Nói cách khác KNSL là mục tiêu chính của một doanh nghiệp nếu muốn hoạt động và phát triển lâu dài. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể tồn tại nếu không có được lợi nhuận trong một thời gian dài. Vì vậy, việc xác định KNSL hiện tại của một doanh nghiệp và dự báo khả năng này trong tương lai là rất cần thiết.
Tỷ lệ lợi nhuận trở lại được xem là chỉ số rất quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp. Các nhà quản lý hiện nay luôn quan tâm đến hiệu quả sử dụng tài sản với mục đích cải thiện KNSL của doanh nghiệp, bởi vì áp lực đến từ các cổ đông 9 buộc các doanh nghiệp phải tìm ra cách để tăng hiệu quả của tài sản, từ đó có thể giúp cho doanh nghiệp duy trì khả năng cạnh tranh. Có nhiều hình thức biểu hiện của tỷ lệ lợi nhuận như lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, lợi tức bán hàng được thể hiện trong các chỉ số tài chính công bố bởi hầu hết các doanh nghiệp. Hamid et al., (2015) khẳng định KNSL còn được gọi là hiệu suất tài chính và nó có liên quan chặt chẽ đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
Mặc dù ROA không phải là một biện pháp hoàn hảo, nhưng đây là biện pháp tài chính hiệu quả và sẵn có nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty. Nó đánh giá cơ bản hiệu quả kinh doanh một cách hoàn hảo, cho thấy cả hiệu suất báo cáo thu nhập và các tài sản cần thiết để điều hành một doanh nghiệp. Theo David Lindo trích bởi Siminica & Stefan, (2011) thì "Lợi nhuận trên tài sản (ROA) là chỉ số tài chính có mục đích chung được sử dụng để đo lường mối quan hệ của lợi nhuận thu được với tài sản đầu tư cần thiết để kiếm được lợi nhuận đó [.] Chỉ số phần trăm ROA là cơ sở có thể dùng để đo lường mức đóng góp lợi nhuận đòi hỏi từ các khoản đầu tư mới. Nghiên cứu của Tailab, (2014) cũng tin rằng ROA là một đại diện tốt cho lợi nhuận vì nó liên quan đến lợi nhuận của doanh nghiệp đối với tài sản cơ bản.
Phan Thanh Hiệp, (2016) cũng ủng hộ việc KNSL của doanh nghiệp được đo bằng ROA. Ngoài ra, nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và KNSL, để đo lường lợi nhuận Tailab, (2014), Phan Thanh Hiệp (2016) còn sử dụng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) làm đại diện. ROE cũng được Abor, (2005) sử dụng trong nghiên cứu về KNSL của các doanh nghiệp Ghana, Gill et al., (2011) và Addae et al., (2013) chọn làm đại diện cho khả năng sinh lợi của doanh nghiệp trong các nghiên cứu về sự tác động của CTV lên KNSL của doanh nghiệp.1 Theo quan điểm truyền thống Nếu như hoạt động của doanh nghiệp được ví như việc sử dụng toàn bộ tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra giá trị cho doanh nghiệp thì cấu trúc vốn được xem là sự kết hợp của các nguồn tài chính được sử dụng để tạo nên các tài sản đó, 10 bao gồm các nguồn tài chính đến từ bên ngoài hoặc từ nguồn nội bộ bên trong doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp chỉ sử dụng nguồn vốn của mình thì toàn bộ lợi nhuận được phân phối cho các cổ đông và tích lũy (qua hình thức trả cổ tức và lợi nhuận giữ lại).
Nếu doanh nghiệp sử dụng một phần nợ, doanh nghiệp phải dành một phần lợi nhuận để trả nợ sau này. Quan điểm truyền thống trích bởi Võ Minh Long, (2017) cho rằng đến bây giờ sự tranh luận về tầm quan trọng của việc lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp vẫn đang tiếp tục mặc dù nó đã diễn ra trong nhiều thập kỷ và xét về mặt bản chất, đó chính là quá trình tranh luận tác động của cấu trúc vốn đến giá trị của doanh nghiệp. “Các chuyên gia tài chính theo quan điểm cổ điển cho rằng tăng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, ví dụ như tăng tỷ trọng nợ trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp lên đến một điểm nào đó sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp nhưng ngoài điểm đó mà nếu tiếp tục tăng đòn bẩy sẽ làm tăng chi phí vốn của doanh nghiệp và kết quả sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp.” Nói cách khác, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp vì khi doanh nghiệp bắt đầu vay mượn, chi phí nợ thấp kết hợp với thuận lợi về thuế sẽ khiến cho WACC giảm, KNSL tăng lên. Tuy nhiên, khi các khoản nợ tăng cao, WACC sẽ tăng vì chi phí vốn chủ sở hữu tăng lên cộng với chi phí nợ cũng tăng lên do rủi ro phá sản tăng, KNSL giảm, giá trị doanh nghiệp sẽ giảm xuống.