Mở đầu cho hàng loạt các nghiên cứu về lý thuyết CTV hiện đại, Modigliani và Miller (1958) cho rằng giá trị của doanh nghiệp chỉ tùy thuộc vào các quyết định đầu tư. Hai ông khẳng định rằng việc lựa chọn giữa vốn chủ sở hữu và nợ không liên quan đến giá trị doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp có thể tùy ý lựa chọn nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của mình. Lý thuyết này được đưa ra trên cơ sở những giả thuyết: [1] cổ phiếu và trái phiếu kinh doanh trên thị trường hoàn hảo, các nhà đầu tư có thể vay cùng mức lãi suất với doanh nghiệp, không có chi phí môi giới; [2] không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân; [3] các khoản nợ là phi rủi ro và lãi suất vay cũng là lãi suất phi rủi ro; [4] thông tin trên thị trường được thông suốt, tức là nhà đầu tư và doanh nghiệp có thông tin giống nhau LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 về cơ hội đầu tư và sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai; [5] tất cả các dòng tiền đều có tính liên tục. Giả sử có hai doanh nghiệp: doanh nghiệp không sử dụng nợ U (Unleveraged) với giá trị doanh nghiệp là VU và doanh nghiệp có sử dụng nợ D (Debit) với giá trị doanh nghiệp là VL.
Theo lý thuyết trên thì: EBIT VL = VU = KU Với: EBIT : là lợi nhuận trước thuế và lãi vay. K : là tỷ lệ hoàn vốn yêu cầu đối với doanh nghiệp không sử dụng nợ. U Từ những giả thuyết trên, ta có thể thấy rằng tất cả các giả thuyết của lý thuyết MM được đưa ra đều rất lý tưởng. Trên thực tế, các yếu tố như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và sự bất cân xứng thông tin luôn tồn tại.
Bên cạnh đó, những giả thuyết còn thể hiện sự bất hợp lý do khi nợ tăng lên thì lãi suất vay cũng tăng lên; lợi nhuận trước lãi và thuế khác nhau với mức độ sử dụng nợ khác nhau và khi doanh nghiệp càng tăng nợ thì khả năng phá sản của doanh nghiệp càng tăng cao. Tuy các giả thuyết đưa ra đều không tồn tại nhưng những lập luận từ lý thuyết này đã tạo nên tiền đề cho những suy luận và mô hình nghiên cứu tiếp theo bằng cách loại dần các giả thuyết không hợp lý. Sau 5 năm, Modigliani và Miller (1963) cho rằng giá trị của doanh nghiệp có vay nợ lớn hơn giá trị của doanh nghiệp được tài trợ hoàn toàn bằng vốn chủ sở hữu do chi phí lãi vay được khấu trừ thuế. Theo đó, lý thuyết M&M khuyến khích các doanh nghiệp vay nợ để tận dụng lợi thế về thuế( hay tận dụng lá chắn thuế) từ đó làm tăng giá trị doanh nghiệp trên thị trường.
Giả sử, cả hai doanh nghiệp có vay nợ và không vay nợ đều có lợi nhuận bằng nhau và bằng P (Profit) và chịu cùng một mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp T (Tax), doanh nghiệp có sử dụng nợ (L) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 vay nợ với lãi suất dài hạn rD. Khi doanh nghiệp vay nợ dài hạn với số tiền D thì khoản tiết kiệm thuế do được khấu trừ hàng năm là (D * rD * T). Ta có: Lợi ích của doanh nghiệp không vay nợ = P * (1 – T) Lợi ích của doanh nghiệp có vay nợ = P * (1 – T) + (D * rD * T) Như vậy lợi ích của doanh nghiệp có vay nợ bằng với lợi ích của doanh nghiệp không vay nợ cộng với khoản tiết kiệm thuế hàng năm. Lý thuyết đánh đổi CTV (Trade-off theory) Lý thuyết đánh đổi CTV lý giải nguyên nhân các doanh nghiệp thích tài trợ một phần bằng nợ vay và một phần bằng vốn cổ phần trong CTV doanh nghiệp mình.
Doanh nghiệp không muốn được tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay vì bên cạnh việc hưởng được lợi ích từ tấm chắn thuế thì nếu sử dụng nợ vay cao sẽ phát sinh nhiều khoản chi phí đặc biệt là chi phí kiệt quệ tài chính. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp sử dụng mức nợ trung bình, xác suất dẫn đến kiệt quệ tài chính sẽ thấp và doanh nghiệp sẽ tận dụng được lợi thế từ tấm chắn thuế. Lý thuyết đánh đổi về CTV có thể được biểu diễn qua công thức cụ thể như sau: Giá trị doanh nghiệp = Giá trị doanh nghiệp được tài trợ hoàn bằng vốn cổ phần + Giá trị hiện tại của khoản lợi từ thuế - Chi phí phá sản kỳ vọng Lý thuyết này chẳng những giải thích được khác biệt giữa các ngành khác nhau mà còn giải thích được ảnh hưởng của thuế, chi phí phá sản và chi phí đại diện có liên quan. Lý thuyết đánh đổi CTV gợi ý cho các doanh nghiệp sử dụng nợ vay nhiều không có điều kiện chi trả bằng tiền mặt trong một khoản thời gian ngắn nên phát hành thêm cổ phần nhưng hạn chế chi trả cổ tức, bán bớt tài sản để thu tiền mặt về để tái cấu trúc vốn, ổn định việc kinh doanh.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lý thuyết chi phí đại diện Lý thuyết chi phí đại diện được nghiên cứu bởi Jenshen và Meckling (1976) qua việc xem xét lại mô hình M & M với giả định các quyết định đầu tư độc lập với CTV. Qua việc nghiên cứu mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp về vấn đề đại diện, Jenshen và Meckling (1976) cho rằng có hai dạng mâu thuẫn: thứ nhất là giữa chủ doanh nghiệp (có thể là cổ đông) với nhà quản lý doanh nghiệp, thứ hai là giữa chủ doanh nghiệp với chủ nợ. Dạng mâu thuẫn thứ nhất: mâu thuẫn giữa chủ doanh nghiệp với nhà quản lý doanh nghiệp.
Dạng mâu thuẫn này phát sinh khi người chủ doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp là khác nhau do chủ doanh nghiệp phải gánh chịu toàn bộ chi phí cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng lại không được hưởng toàn bộ lợi ích do phải bỏ ra khoản chi phí đại diện như: chi phí kí kết hợp đồng với người đại diện, chi cho kiểm toán nhằm giám sát hoạt động, chi thưởng cho người đại diện,…Như vậy, lý thuyết chi phí đại diện đề cập đến mối quan hệ hợp đồng gữa một bên là người quyết định (chủ doanh nghiệp) và một bên là người quản lý và vấn đề được đặt ra ở đây là làm thế nào để người quản lý làm việc vì lợi ích tối ưu của người chủ doanh nghiệp. Theo đó, Jenshen và Meckling (1976) cho rằng trong điều kiện thị trường thông tin là không hoàn hảo sẽ phát sinh hai vấn đề về đại diện: một là sự lựa chọn bất lợi xảy ra khi chủ doanh nghiệp không chắc chắn về khả năng điều hành của người quản lý và chi phí bỏ ra cho người quản lý có xứng đáng hay không, hai là mối nguy về đạo đức do chủ doanh nghiệp không chắc chắn về việc là người quản lý có phát huy hết khả năng làm việc tối ưu của mình hay chưa và liệu rằng họ có vì lợi ích riêng mà đưa ra những quyết định gây ra rủi ro cho doanh nghiệp hay không. Dạng mâu thuẫn thứ hai: mâu thuẫn giữa chủ doanh nghiệp với chủ nợ. Mâu thuẫn này phát sinh trong hợp đồng ký kết giữa chủ doanh nghiệp và chủ nợ khi cân nhắc mức vay nợ trong các khoản đầu tư tối ưu.
Thông thường chủ nợ được hưởng mức lợi suất theo lãi suất xác định thỏa thuận ban đầu trong khi đó lợi nhuận mà chủ doanh nghiệp được hưởng là bất định phụ thuộc vào tình hình kinh doanh và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 tình trạng kiệt quệ tài chính, chủ doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp có thể lao vào các dự án bất chấp nhiều rủi ro mà phần thiệt hại cuối cùng là chủ nợ phải gánh chịu. Từ thực tế khách quan này mà các chủ nợ luôn tự bảo vệ mình thông qua việc xây dựng các điều khoản khắc khe trong hợp đồng. Song song đó, họ cũng giám sát chặt chẽ để buộc các doanh nghiệp tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng đã ký kết. Ở đây chi phí đại diện phát sinh do chi phí lãi vay tăng cao, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ do có ít danh tiếng hơn các doanh nghiệp lớn nên họ phải tốn chi phí cung cấp thông tin ra bên ngoài.
Bên cạnh đó, chi phí đại diện cũng có liên quan đến uy tín của doanh nghiệp vì nếu lịch sử thanh toán của doanh nghiệp tốt thì doanh nghiệp sẽ có cơ hội vay vốn với lãi suất ưu đãi hơn và các ràng buộc cũng ít hơn. Tóm lại, lý thuyết chi phí đại diện đã nêu lên quan điểm về việc những phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp có tác động rất lớn đến CTTC của doanh nghiệp và nghiên cứu về CTTC góp phần quản lý doanh nghiệp tốt hơn thông qua việc nhận diện và kiểm soát các chi phí đại diện tốt hơn. Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) – Lý thuyết thông tin bất cân xứng Những nghiên cứu của Donaldson (1961) là nền tảng đầu tiên cho lý thuyết trật tự phân hạng. Myers và Majluf (1984) đã nghiên cứu về việc lựa chọn CTV, qua đó cũng mở đầu nghiên cứu của mình về lý thuyết trật tự phân hạng.
Lý thuyết này bắt nguồn từ thông tin bất cân xứng, do giám đốc của doanh nghiệp luôn nắm rõ các thông tin về tiềm năng tăng trưởng, giá trị của doanh nghiệp và ngay cả những rủi ro hơn là các thông tin mà các nhà đầu tư bên ngoài có được. Theo quan điểm về mức độ rủi ro khác nhau của các nguồn tài trợ mà nhà đầu tư sẽ ưu tiên sử dụng các khoản tài trợ theo một thứ tự như sau: trước hết là sử dụng nguồn vốn nội bộ trong đó chủ yếu là lợi nhuận giữ lại, tiếp theo là vay nợ mới và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần. Đây là một thứ tự ưu tiên hợp lý thể hiện nhà quản lý doanh nghiệp đầy lý trí do việc sử dụng vốn nội bộ thay vì vay nợ bên ngoài hay bán các chứng khoán nợ. Doanh nghiệp sẽ tránh được các chi phí phát hành, giữ vững uy tín của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 doanh nghiệp và không phải đối mặt với nguy cơ chia sẽ quyền kiểm soát doanh nghiệp.
Nếu như lý thuyết đánh đổi CTV thành công trong việc giải thích sự khác biệt tỷ lệ nợ giữa các ngành thì lý thuyết trật tự phân hạng lại thành công trong việc lý giải sự khác biệt trong tỷ lệ nợ giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành.