Đặt vấn đề Hơn 30 năm trước James Lovelock, nhà khoa học hàng đầu nước Anh nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu trái đất và khả năng cân bằng tự nhiên môi trường duy trì và phát triển sự sống. Ông nhận ra rằng con người đã đối xử tệ bạc với trái đất (bằng cách khai thác tài nguyên và trả lại cho trái đất những điều có hại vượt quá sự hấp thụ của nó. Chính những hành động đó đã làm cạn kiệt nguồn năng lượng hóa thạch, hủy hoại môi trường sống, hủy hoại trái đất này[13][14]. Đứng trước thực trạng khủng hoảng năng lượng trong tương lai gần và hậu quả của biến đổi khí hậu do việc khai thác cạn kiệt các nguồn năng lượng hóa thạch không tái tạo trên trái đất.
Các nhà khoa học đang nỗ lực nghiên cứu tìm kiếm các nguồn năng lượng khác sạch hơn, bền vững hơn nhằm thay thế năng lượng hóa thạch. Các nhà hoạch định chính sách cũng không đứng bên ngoài vấn đề này, những nghiên cứu về quy hoạch năng lượng hợp lý với từng nền kinh tế của đội ngũ làm chính sách nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững và từng bước cải thiện môi trường sống ngày càng tốt hơn. Năng lượng nói chung, đặc biệt là năng lượng điện chính là động lực phát triển kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Than đá Việt Nam đã cạn kiệt sau một thời gian dài khai thác thiếu quy hoạch làm ảnh hưởng rất lớn đến các nguồn nhiệt điện chạy than vốn phụ thuộc rất nhiều vào trữ lượng than đá của đất nước và cũng không thân thiện với môi trường[4][10].
Khai thác dầu mỏ tại Việt Nam còn hạn chế về nhiều mặt như khoan thăm dò, công nghệ khai thác, công nghệ hóa lọc dầu[8][9]. Thủy điện cũng đạt mức tới hạn khi mà các nghiên cứu tác hại của thủy điện đến môi trường được công bố. Điện hạt nhân còn nhiều tranh cãi về tính an toàn và kinh tế. Các đề xuất sử dụng năng lượng hạt nhân thì cho rằng năng lượng hạt nhân là một nguồn năng lượng bền vững làm giảm phát thải và gia tăng an ninh năng lượng do giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch, 2 năng lượng hạt nhân không gây ô nhiễm môi trường không khí, đối ngược hoàn toàn với việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và cũng là nguồn năng lượng có triển vọng thay thế nhiên liệu hóa thạch.
Những lo lắng về rủi ro khi lưu giữ chất thải phóng xạ là rất nhỏ và có thể giảm trong tương lai gần khi sử dụng công nghệ mới nhất trong các lò phản ứng mới hơn. Ngược lại, các ý kiến chỉ trích thì cho rằng năng lượng hạt nhân là nguồn năng lượng chứa đựng nhiều tiềm năng nguy hiểm, các rủi ro có thể được giảm thiểu bằng công nghệ mới không? Việc lưu giữ chất thải phóng xạ như ô nhiễm phóng xạ có an toàn không[3]? Và các dạng năng lượng bền vững, có tiềm năng ở Việt Nam như: năng lượng gió, năng lượng mặt trời, sinh khối, năng lượng sóng biển đã được khai thác nhưng vẫn còn nhiều rào cản về chính sách năng lượng như giá mua bán điện còn thấp, chưa thật sự công bằng làm cho việc xây dựng, triển khai các dự án năng lượng dạng này chưa hiệu quả trong thực tế[3][5][6][11].2 Khái niệm “Nền kinh tế Cacbon thấp” Nền kinh tế carbon thấp (LCE) là nền kinh tế phát triển hoặc đang phát triển dựa trên cơ sở sự kết hợp mật thiết, hợp lý và hài hòa giữa sự phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trường. Trong nền kinh tế, vấn đề bảo vệ môi trường phải được lưu ý và quan tâm song song với các vấn đề phát triển kinh tế. Khái niệm nền kinh tế carbon thấp bao gồm các thuộc tính sau: • Hành động phù hợp với các nguyên lý phát triển bền vững, đảm bảo rằng nhu cầu phát triển được đáp ứng cho mọi nhóm/thành phần trong xã hội.
• Đóng góp một cách công bằng vào nỗ lực chung của toàn cầu trong việc ổn định nồng độ CO2 và phát thải khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể tránh được biến đổi khí hậu nguy hiểm thông qua việc giảm mạnh khí thải toàn cầu. • Thể hiện ở mức độ cao việc sử dụng hiệu quả năng lượng và sử dụng các nguồn năng lượng và công nghệ sản xuất carbon thấp. • Áp dụng các dạng thức tiêu thụ và hành vi thống nhất với mức độ thấp của việc phát thải khí nhà kính. Một mô hình LCE không đơn thuần là việc cắt giảm phát thải khí nhà kính 3 mà nó còn hỗ trợ để việc đạt được các mục tiêu phát triển (kinh tế/xã hội) quốc gia, đặc biệt là sự phát triển hiệu quả và bền vững.
Ngành dân dụng và Lĩnh vực AFOLU Ngành giao thông thương mại Ban hành các chính sách Các thiết bị hiệu suất phát triển năng lượng tái Giao thông công cộng: cao: máy lạnh, lò nấu, tạo thông qua quản lý Thay đổi hệ thống vận chiếu sáng, tủ lạnh, máy nguồn phân bón từ vật tải hành khách từ xe máy nước nóng và các thiết nuôi. sang đi bộ, xe đạp, tàu bị điện khác. Triển khai thoát nước giữa hoặc xe buýt. Khuyến khích năng mùa; rơm rạ trái mùa và Thay đổi hệ thống vận lượng tái tạo và cắt giảm thay thế phân urê bằng tải hàng hóa từ các sử dụng nhiên liệu hóa amoni sulphat cho lúa.
phương tiện lớn sang tàu thạch. Sử dụng các loại phân hiệu hỏa, tàu thủy hoặc Hành vi tiết kiệm năng quả cao cho đất. thuyền hoặc phà. Sử dụng các loại gen có Loại bỏ và thay thế các phẩm chất tốt và cải thiện phương tiện cũ kém chất chất xơ động vật bằng các lượng, khuyến khích các công nghệ tập trung vào phương tiện hiệu quả quá trình lên men trong năng lượng.
Ngành công nghiệp ruột động vật. Khuyến khích sử dụng Các thiết bị hiệu suất Bảo vệ và quản lý bền nhiên liệu thân thiện với cao: lò đun nước, lò vững các khu vực rừng môi trường và hiệu quả nung, động cơ và các hiện hữu; bảo tồn rừng kinh tế như xăng sinh thiết bị khác. phòng hộ hiện hữu và học. Khuyến khích năng trồng các loại cây tăng lượng tái tạo và cắt giảm trưởng nhanh.
sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Lĩnh vực phát điện Tiết kiệm năng lượng Cải tiến hiệu suất phát bằng các thiết bị hiệu điện; giảm thất thoát quả năng lượng thích điện năng trên đường hợp. truyền; thay đổi nhiên liệu. Cải tiến hiệu quả năng lượng Hạ thấp nồng độ khí nhà kính (GHG) NỀN KINH TẾ CACBON THẤP Ở VIỆT NAM Hình 1.1 – Mô hình hướng tới nền kinh tế cacbon thấp cho Việt 4 1.
Các hoạt động biến đổi khí hậu ở Việt Nam và lý do Việt Nam cần LCE, các kịch bản nguồn điện Việt Nam, một trong những quốc gia nghèo trên thế giới, được đánh giá là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu, đặc biệt là bởi sự gia tăng mực nước biển. IPCC (2007) ước tính mực nước biển tại Việt Nam sẽ dâng cao từ 30cm đến 1m trong vòng 100 năm tới. Biến đổi khí hậu đã có thể gây ra những hiện tượng thời tiết cực đoan, dẫn đến tổn thất kinh tế hàng năm cho Việt Nam lên tới 17 tỷ USD (theo Ngân hàng thế giới, 2008). Nhận thức được mối nguy hiểm này, Chính phủ Việt Nam đã ký kết Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu vào tháng 6 năm 1992 và phê chuẩn vào ngày 16 tháng 11 năm 1994.
Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư Kyoto vào ngày 25 tháng 9 năm 2002. Vào ngày 17 tháng 10 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chỉ thị về việc tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu nhằm hỗ trợ hướng dẫn các bộ ngành và cơ quan của Chính phủ cũng như Ủy ban nhân dân cấp quận/huyện thực hiện có hiệu quả Cơ chế phát triển sạch (CDM) của Nghị định thư Kyoto. Điều 12 của Nghị định thư đã xây dựng Cơ chế phát triển sạch nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển bao gồm Việt Nam đạt được sự phát triển bền vững. Dự án CDM tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng với phát triển kinh tế xã hội bền vững, nâng cao điều kiện sống của người dân và giảm đói nghèo thông qua tạo ra việc làm và nguồn thu đi cùng với việc bảo vệ môi trường.
Hiện nay, Việt Nam không có nghĩa vụ bắt buộc trong việc giảm khí thải CO2 tuy nhiên Việt Nam cần phải đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững. Với tầm nhìn phát triển dài hạn, nếu không nhanh chóng có các biện pháp can thiệp nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, Việt Nam sẽ góp một lượng lớn khí thải CO2 dẫn đến tình trạng nóng lên toàn cầu ngày càng trở nên nghiêm trọng. Những thay đổi này có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và xã hội tại Việt Nam. Nhằm ngăn chặn mối nguy hại này, sự phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam phải song hành với sự phát triển nền kinh tế cacbon thấp (LCE).
5 Căn cứ theo [1], nếu không có chiến lược và giải pháp cắt giảm khí thải thì tổng lượng khí thải nhà kính (GHE) của Việt Nam vào năm 2030 sẽ vào khoảng 601 MtCO2eq, gấp 4 lần so với mức 151 MtCO2eq của năm 2005. Theo đó, lĩnh vực năng lượng chiếm 78% lượng khí thải, trong đó sản suất điện năng chiếm khoảng 35%; nông nghiệp, rừng và sử dụng đất khác (Agriculture, Forestry and Other Land Use - AFOLU) chiếm 22% lượng khí thải nhà kính của toàn nền kinh tế (2030). Do đó, việc việc xây dựng các kịch bản nguồn điện để giảm thiểu lượng khí thải với chi phí thấp nhất góp phần hướng tới nền kinh tế cacbon thấp (LCE) vào năm 2030 cho Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng. Vì những lý do nêu trên, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc, có hệ thống các kịch bản: “Cấu trúc nguồn điện hướng tới nền kinh tế Carbon thấp cho Việt Nam” đến năm 2030 là cấp thiết đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, cải thiện môi trường nhằm giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu, giúp cho nền kinh tế tăng trưởng, hội nhập đúng xu thế và vững chắc.
Các nghiên cứu trong và ngoài nước 1.