chương 1. Đánh giá và can thiệp một trường hợp mắc bệnh lý thận có vấn đề sức khoẻ tâm thần. Thông tin chung về thân chủ. Thông tin hành chính.
Hoàn cảnh gặp gỡ. Ấn tượng ban đầu. Các vấn đề đạo đức. Đạo đức trong tiếp nhận ca lâm sàng.
Đạo đức trong việc sử dụng các công cụ đánh giá và quy trình thực hiện đánh giá……. Đạo đức trong can thiệp tâm lý. Mô tả ca. Các thông tin về vấn đề của thân chủ.
Các thông tin về hoàn cảnh gia đình của thân chủ. Các thông tin về tiền sử bệnh. Các thông tin về trải nghiệm khám, chữa bệnh của thân chủ. Các thông tin về mối quan hệ liên cá nhân.
Các thông tin về nhân cách. Các thông tin về sự kiện mang tính sang chấn. Các thông tin về điểm mạnh và nguồn lực của thân chủ. Yếu tố khó khăn khi làm việc với thân chủ.
Kết quả đánh giá. Định hình trường hợp. Lập kế hoạch can thiệp. Mục tiêu đầu ra.
Mục tiêu quá trình. Tiến trình can thiệp. 48 Giai đoạn 1: Hỗ trợ tâm lý cho thân chủ trong giai đoạn điều trị nội trú. 48 Giai đoạn 2: Can thiệp tâm lý trong giai đoạn thân chủ điều trị ngoại trú.
Đánh giá hiệu quả can thiệp. Kết thúc ca và theo dõi sau trị liệu. Tự đánh giá về chất lượng can thiệp. 113 Tiểu kết chương 2.
113 Kết luận và khuyến nghị. 114 Tài liệu tham khảo. Lý do lựa đề tài nghiên cứu Bệnh lý thận, đặc biệt là suy thận mạn tính và suy thận cấp, không chỉ gây ra những tổn thương về mặt thể chất mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý người bệnh. Các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa bệnh lý thận và các rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn giấc ngủ (De Sousa, 2008).
Kimmel và cộng sự (1998) cũng nhấn mạnh rằng các yếu tố tâm lý xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ điều trị và tiên lượng bệnh của bệnh nhân thận. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc can thiệp tâm lý cho bệnh nhân mắc bệnh lý thận vẫn còn nhiều hạn chế. Các nghiên cứu trong lĩnh vực này trên thế giới và tại Việt Nam còn ít và kết quả từ các nghiên cứu này còn có điểm không thống nhất với nhau. Điều này có khả năng dẫn đến hiệu quả can thiệp trong thực tế chưa cao và tình trạng tái phát vẫn thường xuyên xảy ra.
Đây là khoảng trống trong nghiên cứu về can thiệp tâm lý cho bệnh nhân mắc bệnh lý thận, đặc biệt là những nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận toàn diện, kết hợp nhiều kỹ thuật trị liệu khác nhau. Do đó, đề án này được lựa chọn với mục tiêu góp phần bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại, đồng thời cung cấp thêm bằng chứng về hiệu quả của can thiệp tâm lý đối với bệnh nhân mắc bệnh lý thận. Đề án tập trung vào việc can thiệp tâm lý cho một bệnh nhân mắc bệnh lý thận có vấn đề về sức khỏe tâm thần, sử dụng cách tiếp cận và các kỹ thuật trị liệu nhận thức hành vi (CBT) và hỗ trợ tâm lý xã hội. CBT đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc điều trị các rối loạn tâm thần như trầm cảm và lo âu (Hofmann và cộng sự, 2012).
Hỗ trợ tâm lý xã hội giúp bệnh nhân có thêm sự hỗ trợ từ gia đình và xã hội, từ đó tăng cường khả năng đối phó với bệnh tật. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan nghiên cứu về lý luận sức khỏe tâm thần ở bệnh nhân mắc bệnh lý thận và các liệu pháp tâm lý can thiệp. - Áp dụng liệu pháp CBT để trị liệu một ca lâm sàng mắc bệnh lý thận, được chẩn đoán là có vấn đề về sức khỏe tâm thần và đánh giá hiệu quả liệu pháp trị liệu. - Đưa ra kết luận và khuyến nghị, góp phần làm phong phú dữ kiện về trị liệu tâm lý cho bệnh nhân thận có vấn đề sức khỏe tâm thần.
Tổng quan nghiên cứu về vấn đề sức khoẻ tâm thần ở bệnh nhân mắc bệnh lý thận 1. Một số nghiên cứu dịch tễ học Bệnh lý thận, đặc biệt là suy thận mạn tính và suy thận cấp tính, không chỉ gây ra những tổn thương về mặt thể chất mà còn tác động đáng kể đến sức khỏe tâm thần của người bệnh. Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa bệnh lý thận và sự gia tăng tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần. Trầm cảm là rối loạn tâm thần phổ biến ở bệnh nhân thận, đặc biệt là ở những bệnh nhân đang điều trị thay thế thận như chạy thận nhân tạo và ghép thận.
Nghiên cứu của Hedayati và cộng sự (2009) trên 272 bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính cho thấy có 21% người tham gia đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm. Một nghiên cứu khác của Kimmel và cộng sự (1998) cũng ghi nhận tỷ lệ trầm cảm cao ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo tại Mỹ, đặc biệt là ở những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thấp và ít hỗ trợ xã hội. Trầm cảm ở bệnh nhân thận không chỉ làm giảm chất lượng cuộc sống mà còn ảnh hưởng đến khả năng tuân thủ điều trị, tăng nguy cơ nhập viện và tử vong. Mặc dù ít được nghiên cứu hơn đáng kể so với trầm cảm, nhưng lo âu cũng là một vấn đề sức khoẻ tâm thần phổ biến ở những bệnh nhân bị suy thận mạn tính (Simões e Silva và cộng sự, 2019).
Một nghiên cứu theo chiều dọc được tiến hành với 50 bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính đang chạy thận nhân tạo, sử dụng thang đo lo âu và trầm cảm ở bệnh viện (Hospital Anxiety and Depression Scale – HADS) đã phát hiện ra các triệu chứng lo âu ở 45,7% bệnh nhân. Sau 16 tháng theo dõi, một phần đáng kể những bệnh nhân này (30%) vẫn có các triệu chứng lo âu (Cukor và cộng sự, 2008). Tỷ lệ lo âu cao ở nhóm người mắc bệnh thận mạn tính cũng đã được báo cáo trong các nghiên cứu cắt ngang. Trong một nghiên cứu trên 208 bệnh nhân trước lọc thận, đánh giá bằng HADS, tỉ lệ lo âu được tìm thấy là 24,8% ở những bệnh nhân suy thận độ 3, 29,9% ở những bệnh nhân suy thận độ 4 và 34,3% ở những bệnh nhân suy thận độ 5 (Lee và cộng sự, 2013).
Trong một nghiên cứu cắt ngang bao gồm 155 bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo trong ít nhất 6 tháng, các triệu chứng lo âu được đánh giá bằng Beck Anxiety Inventory được tìm thấy ở 53% bệnh nhân, các triệu chứng từ trung bình đến nặng xuất hiện ở 28% bệnh nhân (Feroze và cộng sự, 2012). Nghiên cứu của Hedayati và cộng sự 9 (2009) trên 272 bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính cũng cho thấy có 18,4% người tham gia mắc một trong những rối loạn lo âu, bao gồm rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu xã hội, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, rối loạn căng thẳng sau sang chấn hoặc rối loạn lo âu lan toả. Nghiên cứu tổng quan của Simões e Silva và cộng sự (2019) cho thấy các triệu chứng lo âu cao hơn ít nhất hai lần ở bệnh nhân suy thận mạn tính so với dân số nói chung. Các triệu chứng lo âu cũng có thể liên quan đến cảm nhận về chất lượng cuộc sống suy giảm, xuất phát từ tình trạng sức khỏe kém, tần suất nhập viện cao và tăng nguy cơ tử vong.
Về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, các nghiên cứu theo chiều dọc và theo chiều ngang đã chỉ ra điểm số thấp hơn về chất lượng cuộc sống liên quan đến giai đoạn suy thận mạn tính (Cruz và cộng sự, 2011; Marthoenis và cộng sự, 2021; Simões e Silva và cộng sự, 2019). Rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) cũng là một trong những vấn đề về sức khoẻ tâm thần mà những bệnh nhận có vấn đề về thận gặp phải, đặc biệt là ở những bệnh nhân đã trải qua quá trình ghép thận. Tổng hợp kết quả các nghiên cứu về chủ đề này, Nash và cộng sự (2022) cho kết quả: tỉ lệ bệnh nhân có PTSD sau ghép thận khác nhau, phụ thuộc vào các công cụ chẩn đoán hoặc các phương pháp sàng lọc kể từ sau khi ghép thận. Ở người lớn, sau ba tháng được ghép thận, tỉ lệ người có PTSD dao động trong khoảng từ 0,4% ở người nhận từ người cho sống và 21% ở người nhận từ người cho chết não/tim ngừng đập.
Ở người lớn, những người đã trải qua ghép thận báo cáo các triệu chứng của PTSD thường xuyên hơn và ở mức độ cao hơn những người bệnh trải qua quá trình lọc máu. Ở trẻ em, có khoảng 16-42% các bệnh nhi trải qua PTSD. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng những nghiên cứu trên trẻ em được ghép thận còn hạn chế bởi cỡ mẫu nhỏ và nghiên cứu cắt ngang chưa xác định được chắc chắn các yếu tố rủi ro. Các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển vấn đề sức khoẻ tâm thần ở bệnh nhân mắc bệnh lý thận Những bệnh nhân điều trị các bệnh về thận, đặc biệt là với bệnh nhân suy thận và phải chạy thận nhân tạo, phải đối mặt với các tác nhân gây căng thẳng do sự thay đổi sinh hoá trong cơ thể và quá trình điều trị đòi hỏi nhiều công sức và tuân thủ chặt chẽ các hướng dẫn.
Các tác nhân căng thẳng đó là những khó khăn trong công việc, thay đổi trong các mối quan hệ xã hội và hôn nhân, bị hạn chế thời gian nghỉ ngơi, v. 10 Thất nghiệp được coi là một yếu tố gây căng thẳng lớn đối với bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính vì phần lớn những bệnh nhân này không thể duy trì công việc cố định của mình (Muehrer và cộng sự, 2011) và buộc phải thay đổi hoặc điều chỉnh các hoạt động nghề nghiệp của mình sau khi bắt đầu chạy thận nhân tạo (Theofilou, 2012). Các yếu tố ảnh hưởng đến việc duy trì công việc cố định của họ là tình trạng thể chất hoặc cảm xúc kém, các bệnh đi kèm như thiếu máu và quy trình điều trị chạy thận nhân tạo gây mệt mỏi cho bệnh nhân (Muehrer và cộng sự, 2011).