CHƯƠNG 1 Cơ SỎ LÝ LUẬN VÈ CÔNG TÁC XÉP HẠNG TÍN DỤNG NỘI Bộ KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TÔNG QUAN VÈ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo NHNN Việt Nam (2005) RRTD trong hoạt động ngân hàng ỉà khà năng xảy ra tồn thất cho ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khá năng thực hiện nghía vụ cùa mình theo cam kết. Theo Nguyền Văn Tiến (2013): “RRTD là nhừng tổn thất do khách hàng vay không tra được nợ hoặc sự giam sút chât lượng tín dụng cua khoan vay.
Hay nói cách khác, RRTD là rũi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đù gốc và lài cua khoan vay hoặc việc thanh toán gốc và lài không đúng kì hạn”. Phan Thị Thu Hà (2009) cho rằng: “RRTD là kha năng khách hàng nhận khoản von vay không thực hiện, thực hiện không đay đú nghĩa vụ đoi với ngân hàng, gây nên tôn thất cho ngân hàng. Khi NHTM thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng thì NHTM có thê đoi mặt với rủi ro khách hàng không thể trá đầy đu gốc, lài hay cà gốc và lài cùa khoan vay đúng cam kết. Khi thực hiện giao dịch tín dụng, từ lúc giai ngân đen khi thu hồi vốn, lúc này NHTM chưa biết chắc chắn giao dịch này có hoàn tất thành công hay không, vì vậy RRTD thê hiện ở khà năng hay xác suất hoàn thành giao dịch tín dụng đó”.
10 Tại Việt Nam, khái niệm RRTD được quy định tại Thông tư 02/2013/TT- NHNN, cụ thê như sau: "Rủi ro tín dụng trong hoạt dộng ngân hàng là tôn thát cỏ khả nàng xảy ra đối với nợ của tô chức tin dụng, chỉ nhảnh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không cỏ khả nâng thực hiện một phán hoặc toàn hộ nghía vụ của mình theo cam kết Như vậy, có nhiều khái niệm liên quan đen RRTD cùa các nhà nghiên cứu cùng như văn bàn pháp lý tại Việt Nam. Trong phạm vi cua luận vãn, khái niệm RRTD cua NHTM có thể được hiêu như sau: “RRTD là khả nãng xày ra tôn thất khi khách hàng không hoàn trà hoặc hoàn trà không đầy đũ theo hợp đồng tín dụng đà kí giừa NHTM và khách hàng. Cụ thể hơn, RRTD là rùi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện dúng các điều khoăn cua hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm tra nợ, tra nợ không dầy dũ hoặc không trã nợ khi den hạn các khoán gốc và lãi vay, gây ra nhừng tồn thất và khó khăn cho NHTM”. Nguyên nhãn dẫn đến rủi ro tín dụng Trên thực tế, có nhiều nguyên nhân dẫn đến RRTD.
Một số những nguyên nhàn chính yếu dẫn dển RRTD cũa các NHTM có thể dược thể hiện như sau: a. Nguyên nhân lữ phía ngân hàng Thứ nhất, công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ còn tiến hành lòng léo. Trong một số trường hợp, công tác này nếu dược thực hiện tốt, thực hiện một cách thường xuyên và hiệu quả sè giúp cho NHTM có thề sớm nhận diện dược các RRTD có thế xây ra, từ dó có nhừng phương án phòng ngừa một cách thích hợp. Ngược lại, nếu công tác này không thực hiện hiệu quả, có thể khiến NHTM phải chịu tôn thất rất lớn khi RRTD xây ra.
Thứ hai, sự thiếu đạo đức hoặc trình độ chuyên môn nghiệp vụ kém cùa dội ngù nhàn sự. Đạo dức cua cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giãi quyết vấn đề hạn chế RRTD. Bởi đày là đội ngũ làm việc trực tiếp với khách hàng, có thê thông đồng với khách hàng đê thực hiện các hoạt dộng sai quy định, nhằm giúp cho khách 11 hàng vay vốn. Trình độ kém cùa nhân sự có thê làm phát sinh nhừng sai sót trong quá trình nghiệp vụ, dẫn đen nhừng tôn thất không đáng có cùa NHTM.
Thứ ba, các NHTM thiếu sự giám sát sau khi cấp tín dụng. Một so NHTM không thực hiện tốt công tác giám sát sau khi cho vay, có thê xuất phát từ mô hình quan trị RRTD chưa hiệu quá, hoặc sự hạn chế về chất lượng và số lượng cùa cán bộ tín dụng. Điều này dẫn đen khách hàng có thê sừ dụng vốn sai mục đích, vi phạm các điều khoán cho vay, phát sinh RRTD. Thứ tư, việc mờ rộng tín dụng quá mức cũa các NHTM.
Một số NHTM vì thúc đẩy mở rộng quy mô cho vay quá nhanh, dần đến việc lựa chọn và xếp hạng khách hàng không thật sự kỹ càng, thiếu sự giám sát cua cán bộ tín dụng, khiến cho RRTD cũa các khoán vay này tăng lên. Nguyên nhăn từphia khách hàng Thứ nhất, khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích. Một số khách hàng sau khi vay vốn dược từ các NHTM dũ sư dụng vốn vay không dứng mục đích đà cam kết với các NHTM, đầu tư vào các phưomg án kinh doanh có mức độ rui ro cao, dẫn đến phá sân kế hoạch kinh doanh, mất khả năng trà nợ gốc và lài cho NHTM. Thứ hai, một số khách hàng có khã năng quân lý hoạt dộng SXKD chưa thật sự tốt.HDN có trình độ và khà năng quản lý hoạt động SXK.D, quan lý tài chính, quàn lý nhân sự cùng như các hoạt dộng khác còn hạn chế, dần đến hiệu quà kinh doanh thấp, trong trường hợp xấu nhắt có thể dẫn dến việc kinh doanh thua lỗ, anh hường lớn tới khà năng trá nợ các khoan vay cho NHTM.
Thứ ba, dạo đức cùa khách hàng vay von. Một số khách hàng cố tình giã lặp phương án SXKD không có thật đề vay vốn, trong khi một số khách hàng khác lại co tình không trã nợ gốc và lài cho NHTM mặc dù vẫn có nguồn tiền từ hoạt động kinh doanh. Nhừng vần đề này thuộc phạm trù đạo đức cùa khách hàng vay von, nếu NHTM không kiêm soát chặt sè dẫn đến RRTD có thê này sinh bat kỳ lúc nào với các khoán vay này. Nguyên nlìân từ môi trường hên ngoài Cũng như hoạt động cùa các chú thê kinh tế khác, hoạt động tín dụng cua NHTM chịu ánh hương cua nhiều nhân tố khách quan từ môi trường kinh tế, môi trường chính trị, đặc diem văn hóa - xà hội, môi trường pháp lý và các tác động chung cùa khu vực và địa phương.
Môi trường kinh tế không ôn định, môi trường tự nhiên biến đôi nhanh chóng với sự xuất hiện ngày càng nhiều cua các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai,. dần tới những ãnh hường nặng nề tới việc SXK.D cùa nên kinh te, trong đó, lình vực nông nghiệp chịu ánh hương lớn bơi thiên tai. Dần đến nhừng RRTD cùa các khoản vay cùa NIITM là không thể tránh khói. Bên cạnh đó, môi trường pháp lý còn chồng chéo cùng khiến cho RRTD cùa các NHTM diễn biến xấu di.
Nếu các văn bàn pháp lý dược các cơ quan nhà nước ban hành còn chồng chéo, không tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM cùng như các KHDN có thể ốn dinh hoạt dộng kinh doanh, dản đến K.HDN kinh doanh thiếu ồn định, thua lồ, và cùng dẫn đến hoạt động cùa các NHTM cũng gặp nhiều khó khăn, xuất phát từ các rui ro pháp lý không thể dự đoán trước. TÔNG QUAN VÈ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng và tín dụng khách hàng doanh nghiệp a. Khải niệm tín dụng Tính dến thời diêm hiện tại, có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng.
Theo lịch sứ ra đời cùa tín dụng, ban đầu khái niệm đơn giãn về tín dụng là: “Tín dụng là nhừng quan hệ vay mượn có sự hoàn trả cá gổc và lài sau một thời gian nhất định, sự thoã thuận giìra người đi vay và người cho vay về số tiền vay, lài suất, thời hạn và phương thức trá nợ (trà một lần hay trà dần)” (Nguyền Đãng Dờn và cộng sự, 2014). Theo Phan Thị Thu Hà (2009): “Một quan hệ tín dụng phái thoa màn: (i) Là quan hệ chuyên nhượng giá trị mang tính chất tạm thời; (ii) Dam bào tính hoàn tra về thời 13 gian và giá trị; (iii) Ọuan hệ tín dụng được xây dựng trên cơ sở sự tin tường giừa người cho vay và người đi vay”. Theo Nguyền Vãn Tiến (2013): “tín dụng cua NHTM là việc thóa thuận dê tô chức, cá nhàn sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sừ dụng một khoan tiền theo nguyên tác có hoàn tra bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khâu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bào lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Tóm lại, tín dụng cùa NHTM có thề dược hiểu là quan hệ/hình thức tín dụng tiền tệ, trong đó các NHTM cho vay các chu thể khác nhau trong nền kinh tế băng tiền.
Nói cách khác, chú thể cua tín dụng ngân hàng là các NHTM và các đối tượng khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp), đối tượng vay mượn là tiền tệ - khác với các loại hình tín dụng khác như tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước hay tín dụng thuê mua. Khái niệm tin dụng khách hàng doanh nghiệp Tín dụng KHDN là khái niệm phản ánh mối quan hệ giừa ngân hàng và doanh nghiệp. Nếu ngân hàng cho doanh nghiệp vay tiền, thì ngân hàng dóng vai trò cho vay còn doanh nghiệp đóng vai trò đi vay, ngược lại, nếu doanh nghiệp gửi tiền hoặc các tài sàn tại ngân hàng, thi vai trò này thay đồi, doanh nghiệp đóng vai trò người cho vay, trong khi đó ngân hàng đóng vai trò đi vay. Điều này cho thấy, tùy vào từng trường họrp khác nhau, mà vị trí cho vay - đi vay cùa ngân hàng và doanh nghiệp có thề thay đồi linh hoạt (Ngô Thanh Phúc, 2012).
Xét trẽn trường hợp doanh nghiệp vay tiền cúa ngân hàng, tín dụng doanh nghiệp ỉà mối quan hệ giừa ngân hàng với các doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp được ngân hàng chuyển nhượng quyền sừ dụng một lượng giá trị (tiền tệ hoặc hàng hóa, tài sàn) với nhừng điều kiện nhất định mà các bên đà thỏa thuận. Phân loại tín dụng khách hàng doanh nghiệp a. Cân cừ vào mục đích vay vốn Tín dụng bất động san: là các khoan tín dụng đầu tư vào bất động san, bao gồm: Tín dụng ngan hạn cho xây dựng nhô và sừa chừa nhà cưa; Tín dụng dài hạn đề mua 14 đất đai, nhà cửa, cơ sơ dịch vụ, trang trại. Tín dụng công thương nghiệp: là các khoàn tín dụng dành cho cho các doanh nghiệp để trang trài các chi phí như mua hàng hóa, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trã thuế và chi trả lương.