Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài và các công trình nghiên cứu. Chương 2: Tìm hiểu các phương pháp áp dụng trong sa thải phụ tải để giữ ổn định hệ thống điện Chương 3: Đề xuất cải tiến phương pháp điều khiển khẩn cấp sa thải phụ tải để giữ ổn định hệ thống điện Chương 4: Khảo sát, thử nghiệm nhằm kiểm chứng hiệu quả phương pháp đề xuất. Thử nghiệm chương trình sa thải tải trên hệ thống 39 thanh góp và 10 máy phát điện bằng phần mềm Powerworld để mô phỏng, lấy mẫu dữ liệu nhằm kiểm chứng hiệu quả phương pháp đề xuất. Chương 5: Kết luận Trình bày các kết quả đạt được trong đề tài, và hướng nghiên cứu phát triển của đề tài.
5 Luan van Chương 2 CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP ÁP DỤNG TRONG ĐIỀU KHIỂN KHẨN CẤP SA THẢI PHỤ TẢI HỆ THỐNG ĐIỆN 2.1 Sa thải phụ tải Trong các điều kiện vận hành khẩn cấp khi mà các thông số vượt ngoài quy chuẩn do nguyên nhân nào đó dẫn đến hậu quả lớn, sa thải phụ tải là biện pháp cắt phụ tải từ hệ thống điện, giữ cho phần còn lại của hệ thống vận hành ổn định. Sa thải phụ tải là biện pháp cuối cùng để chống lại sự nhiễu loạn của hệ thống do có sự chênh lệch giữa công suất phát và công suất tải, cũng như do tăng tải đột ngột mà khả năng dự trữ công suất của hệ thống không đáp ứng đủ. Việc phân loại các phương pháp sa thải phụ tải được trình bày ở Hình 2.1 Phân loại các phương pháp sa thải phụ tải 2.2 Sơ đồ liên động máy cắt Đây là phương pháp đơn giản nhất để thực hiện sa thải phụ tải. Ví dụ, một máy cắt nguồn (máy cắt nối với lưới điện) sẽ được liên động bằng cách nối cứng hoặc qua tín hiệu từ xa với các máy cắt tải đã được chọn trước để cắt.
Vì lí do nào đó, một máy cắt máy phát bị mất, tín hiệu cắt sẽ tự động được gởi đến để cắt các máy cắt tải. Tốc 6 Luan van Chương 2 độ của sơ đồ này là rất nhanh do không đòi hỏi phải xử lí, và số lượng tải để sa thải đã được thực hiện trước khi có sự cố xảy ra. Sa thải phụ tải theo sơ đồ liên động máy cắt cũng có các nhược điểm sau: Khó thay đổi mức độ ưu tiên tải do các hoạt động sa thải phụ tải đã được nối cứng dây và số lượng tải để sa thải đã được tính toán cho các kịch bản xấu nhất. Chỉ có một mức sa thải phụ tải.
Sa thải phụ tải quá mức cần thiết. Hoạt động theo sơ đồ sa thải phụ tải loại này giống như việc ngắt toàn bộ hệ thống công nghiệp không theo một trật tự nào cả. Việc ngắt điện không theo kế hoạch này có thể dẫn đến hư hỏng, giảm tuổi thọ thiết bị. Việc khởi động lại nhà máy có thể bị chậm trễ do yêu cầu phải ngắt nguồn và khởi động lại các nhà máy từ xa do ảnh hưởng bởi sự mất mát của nhà máy chính, trước khi nhà máy chính có thể được khởi động.3 Sa thải phụ tải sử dụng Rơle dưới tần số truyền thống (UFLS) (Relay 81) [9] Hình 2.2 Sơ đồ sa thải phụ tải dưới tần số sử dụng relay 81 Rơle tần số không phát hiện được các nhiễu loạn nhưng nó phản ứng lại với sự thay đổi tần số do các nhiễu loạn gây ra.
Nó phát hiện hoặc là thay đổi nhanh về 7 Luan van Chương 2 tần số hoặc sự suy giảm từ từ tần số và bắt đầu tác động theo từng mức của máy cắt liên động. Khi tần số đạt mức thứ nhất, R81 sẽ chờ một khoảng thời gian đặt trước để tránh cắt máy cắt không mong muốn và sau đó sẽ cắt một hoặc nhiều máy cắt tải để phục hồi tần số. Nếu tần số tiếp tục suy giảm, đến mức tiếp theo và sau khoảng thời gian trễ, R81 sẽ tác động mở các máy cắt tải khác cho đến khi tần số trở lại bình thường. Sa thải phụ tải sử dụng rơle tần số truyền thống chủ yếu được sử dụng điều khiển hệ thống với các dạng tải tĩnh, nó có một số nhược điểm sau: Thời gian đáp ứng chậm, do 2 nguyên nhân: Thứ nhất, cần có thời gian để tần số đạt đến ngưỡng cài đặt.
Thứ 2, thông thường sẽ cài đặt một khoảng thời gian trễ để cho rơle tránh các tác động không mong muốn do các xung nhọn và các sai lệch thoáng qua. Sa thải phụ tải không đúng gây mất điện không mong muốn.4 Sa thải phụ tải sử dụng Relay dưới tần số sử dụng tốc độ thay đổi tần số (df/dt) [10] Gần đây, tốc độ thay đổi tần số (df/dt) được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng như bộ điều khiển bổ sung có thể thay đổi được để cải tiến UFLS. Trong vài phương pháp, các rơle dưới tần số được thiết lập dựa trên tốc độ ban đầu của thay đổi tần số. Nhiều sơ đồ UFLS đã điều chỉnh để hỗ trợ nâng cao tính năng bảo vệ, bao gồm: UFLS thích nghi sử dụng cả hai tần số tại chỗ và thông tin tần số định mức, UFLS động có thể điều chỉnh một cách linh động kích thước của mức sa thải phụ tải và các UFLS tối ưu hoá.5 Sa thải phụ tải thông minh (ILS - Intelligent Load Shedding) [11] Do những hạn chế của của các hệ thống sa thải phụ hiện có, một hệ thống ILS là cần thiết để nâng cao đáp ứng thời gian, dự đoán chính xác sự thay đổi tần số và đưa ra quyết định nhanh chóng, tối ưu và tin cậy.
Không như tính ngẫu nhiên đơn điệu của hệ thống sa thải phụ tải bằng các thiết bị bảo vệ, hệ thống ILS hiện đại có các tính năng sau: Tạo ra cấu trúc và bộ xử lý của hệ thống điện để tự động phân tích và theo dõi sự thay đổi các thay đổi của hệ thống. 8 Luan van Chương 2 Có thể lập bản độ một hệ thống điện phi tuyến và rất phức tạp với giới hạn của các điểm dữ liệu thu thập đến không gian hữu hạn. Tự động ghi nhớ cấu hình hệ thống, các điều kiện hoạt động như tăng hoặc giảm tải và đáp ứng của hệ thống khi có nhiễu loạn với tất cả các cấu hình hệ thống. Biết trước các mô hình khác nhau để dự đoán đáp ứng của hệ thống cho các nhiễu loạn khác nhau.
Sử dụng các cơ sở tri thức có sẵn trên cơ sở có thể huấn luyện được bởi người dùng xác định. Thu được sự tự học thích nghi và tự động huấn luyện của cơ sở tri thức do hệ thống thay đổi. Xác định ma trận hệ số tham gia của tải và máy phát (PFM). Đưa ra quyết định nhanh chóng, chính xác và tin cậy trên tính ưu tiên phụ tải sa thải dựa trên trạng thái hiện tại của phụ tải ở mỗi máy cắt.
Có thể tính toán sa thải một lượng tối thiểu phụ tải để duy trì sự ổn định và tần số danh định của hệ thống. Sa thải tối ưu kết hợp giữ máy cắt tải với các mục tiêu đã xác định bằng việc sử dụng hết các kiến thức hệ thống. Có thể xác nhận, hợp lí hóa tính logic và hoạt động của sơ đồ sa thải phụ tải trước khi đưa vào hoạt động. Ngoài các tính năng trên, hệ thống ILS phải có một cơ sở tri thức động.
Để một cơ sở tri thức đạt hiệu quả, nó phải có khả năng nắm bắt được các thông số chủ chốt trực tiếp tác động đến đáp ứng tần số hệ thống khi có nhiễu loạn. Những thông số này không có giới hạn, gồm có: Công suất chuyển đổi giữa hệ thống và lưới điện trước và sau khi nhiễu loạn. Máy phát khả dụng trước và sau khi nhiễu loạn. Độ dữ trữ tại chỗ máy phát.
9 Luan van Chương 2 Các máy phát động tại chỗ, đặc biệt là tốc độ khởi động của các máy phát công suất tác dụng. Các tình trạng nâng cấp và tải thực tế của mỗi tải có thể sa thải được. Đặc tính động của tải hệ thống, bao gồm các máy quay, tải kháng không đổi, tải dòng điện không đổi, tải công suất không đổi, tải tần số phụ thuộc, và các loại tải khác. Ma trận luồng công suất tham gia vào mô tả công suất tác dụng đóng góp từ mỗi máy phát đến mỗi trung tâm tải.
Thông tin quan trọng này sẽ cho phép xác định chính xác hiệu quả vị trí tải sa thải do thất thoát một bộ phận phát điện xác định. Một số yêu cầu bổ sung phải được đáp ứng trong quá trình thiết kế và điều chỉnh sơ đồ ILS: Chọn lựa và cấu hình các trường hợp cơ sở tri thức một cách cẩn thận. Có khả năng chuẩn bị và đưa ra đầy đủ các trường hợp huấn luyện cho hệ thống cơ sở tri thức để đảm bảo tính chính xác và hoàn chỉnh. Có khả năng đảm bảo rằng hệ thống cơ sở tri thức là hoàn chỉnh, chính xác và được thử nghiệm.
Có khả năng thêm các logic về định nghĩa người dùng. Có khả năng thêm các hệ thống phụ thuộc. Có một hệ thống giám sát trực tuyến có thể thu thập dữ liệu hệ thống theo thời gian thực một cách liên tục. Có thể chạy chế độ dự phòng và dự đoán để tạo ra một bảng sa thải phụ tải động tương ứng với các thay đổi cấu hình của hệ thống và các nhiễu loạn định trước.
Cung cấp một hệ thống điều khiển tại chỗ cho hệ thống điện với sự giám sát của hệ thống ILS. 10 Luan van Chương 2 2.6 Sơ đồ khối chức năng của ILS Hình 2.3 Sơ đồ khối chức năng của một ILS Trong hình 2.3, ILS là sự huấn luyện cơ sở tri thức sử dụng các trường hợp cơ sở tri thức đã được lựa chọn một cách cẩn thận từ các hệ thống học và mô phỏng ngoại tuyến. Các đáp ứng động của hệ thống bao gồm sự thay đổi về tần số và điện áp do các nhiễu loạn khác nhau là một trong các đầu ra của cơ sở tri thức. ILS chạy trên nền một hệ thống giám sát tiên tiến, liên tục theo dõi các điều kiện hoạt động của hệ thống, bao gồm các máy phát, phụ tả, và trạng thái máy cắt.