Chương 1: Khái quát về hoạt động tín dụng ngân hàng và hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ - Chương 2: Thực tiễn áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại Chi Nhánh Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Tp.HCM - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam 4 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ 1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả. Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trung gian tài chính ra đời để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, cá nhân với đặc thù kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Trước tiên, NHTM sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, sau đó cho các tổ chức kinh tế, cá nhân vay lại với lãi suất cao hơn lãi suất huy động để thu lợi nhuận.
Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền trong một khoản thời gian nhất định với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các dịch vụ khác, cụ thể: - Cho vay (loans) Là việc ngân hàng sẽ cấp cho người đi vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hay tiêu dùng. Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn gốc và tiền lãi. - Chiết khấu (discount) Đây là nghiệp vụ cho vay gián tiếp mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể nhưng một chủ thể khác sẽ thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng. 5 Các đối tượng trong nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá khác.
- Cho thuê tài chính (financial leasing) Đây là loại hình tín dụng trung, dài hạn, trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và cho thuê trong một thời gian nhất định. Người đi thuê phải trả cho công ty cho thuê tài chính tiền thuê mỗi quý hoặc mỗi tháng một lần, hoặc tùy theo thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Khi kết thúc hợp đồng người đi thuê có quyền mua hoặc kéo dài thời hạn thuê, hoặc trả lại thiết bị cho công ty cho thuê tài chính. - Bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee) Là loại hình nghiệp vụ mà Ngân hàng sẽ cấp bảo lãnh cho khách hàng, nhờ đó khách hàng sẽ được vay vốn Ngân hàng khác hoặc được tham gia dự thầu, được ký kết hợp đồng kinh tế, được ứng vốn để thực hiện hợp đồng, … - Các hình thức khác Ngoài các loại hình cấp tín dụng kể trên ngân hàng còn có nhiều loại hình cấp tín dụng khác như: tài khoản thấu chi, thẻ tín dụng … Hoạt động cấp tín dụng không những có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng thương mại bởi vì nhờ cho vay tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng để từ đó hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi tiền gửi cho khách hàng, bù đắp các chi phí kinh doanh và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, mà nó còn có ý nghĩa đối với toàn bộ hoạt động nền kinh tế xã hội thông qua sự chuyển hóa từ vốn tiền gửi nhàn rỗi thành vốn tín dụng để bổ sung cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh đang thiếu hụt vốn trong nền kinh tế.
Tuy nhiên hoạt động cho vay là hoạt động mang tính rủi ro lớn. Vì vậy, cần phải quản lý các khoản vay một các chặt chẽ thì mới có thể ngăn ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro.2 RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm rủi ro Rủi ro (risk) là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn. Nhưng không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác xuất xẩy ra mới được xem là rủi ro.
Còn tình trạng không chắc chắn nào không thể ước đoán được xác xuất và chưa từng xảy ra chỉ được xem như là sự bất trắc chứ không phải là rủi ro. Để có thể đo lường được, rủi ro được định nghĩa như là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng. Nói đến rủi ro tức là nói đến quan hệ giữa giá trị một biến nào đó so với kỳ vọng của nó. Giá trị kỳ vọng chính là giá trị trung bình có trọng số của một biến nào đó với trọng số chính là xác suất xảy ra giá trị của biến đó.
Sự khác biệt giữa giá trị thực tế so với giá trị kỳ vọng được đo lường bởi độ lệch chuẩn. Do vậy, độ lệch chuẩn hay phương sai, bình phương của độ lệch chuẩn, chính là thước đo của rủi ro. Công thức đo lường rủi ro : n [RiE(R)]2 (Pi) i 1 Trong đó Ri là tỷ suất lợi nhuận ứng với biến cố I; Pi là xác suất xẩy ra biến cố i và n là số biến cố có thể xảy ra; E(R) là lợi nhuận kỳ vọng, được xác định theo công thức như sau: E(R) = n (Pi)( Ri) i 1 1.2 Rủi ro tín dụng Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến những tổn thất về tài sản cho ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Trong hoạt động của các công ty, rủi ro tín dụng phát sinh khi công ty bán chịu hàng hóa và khách hàng mua chịu không có khả năng trả nợ.
Trong hoạt động 7 ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó. Rủi ro tín dụng hay còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo như đã cam kết. Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ hoặc thu không đúng kỳ hạn cả gốc lẫn lãi của khoản vay. Việc hoàn trả được nợ gốc trong tín dụng ngân hàng có nghĩa là việc thực hiện được giá trị hàng hoá trên thị trường, còn việc hoàn trả được lãi vay trong tín dụng là việc thực hiện được giá trị thặng dư trên thị trường.
Do đó, có thể xem rủi ro tín dụng cũng là rủi ro kinh doanh nhưng được xem xét dưới góc độ của ngân hàng. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, cho vay đồng tài trợ. Rủi ro tín dụng bao gồm hai loại chính sau đây: - Rủi ro giao dịch: là rủi ro liên quan đến từng khoản vay hoặc từng khách hàng cụ thể. Đây là rủi ro có thể phát sinh liên quan đến quá trình thẩm định xét duyệt cho vay, kiểm soát sau khi cho vay hoặc do sơ hở trong việc thực hiện bảo đảm tiền vay và những cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng.
- Rủi ro danh mục tín dụng: là rủi ro phát sinh liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tín dụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng do sản phẩm không phù hợp hoặc quá tập trung cho vay vào một ngành, lĩnh vực.1: Sơ đồ rủi ro tín dụng 1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Có hai đối tượng tham gia trong quan hệ tín dụng, đó là ngân hàng cho vay và người đi vay. Rủi ro xuất phát từ người đi vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan. Về phía khách hàng: nguyên nhân chủ quan có thể do trình độ quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. Về phía ngân hàng: nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tín dụng có thể xuất phát từ quá trình phân tích và thẩm định tín dụng không kỹ lưỡng dẫn đến những sai lầm trong quyết định cho vay.
Mặt khác, cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích nhưng ngân hàng vẫn không phát hiện để ngăn chặn kịp thời. 9 Tuy nhiên người đi vay sử dụng tiền vay trong một không gian, thời gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện nhất định mà ta gọi là môi trường kinh doanh. Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan. Có thể do khách hàng gặp phải những thay đổi môi trường kinh doanh không thể lường trước được, chẳng hạn sự thay đổi về giá cả hay nhu cầu thị trường, sự thay đổi về môi trường pháp lý hay chính sách của chính phủ khiến doanh nghiệp lâm vào trình trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được.
Từ đó doanh nghiệp dù có thiện chí nhưng vẫn không có điều kiện để trả nợ.4 Thiệt hại từ rủi ro tín dụng Tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu và cũng là hoạt động chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro nhất cho các ngân hàng thương mại. Cho dù rủi ro xuất phát từ nguyên nhân chủ quan hay khách quan, từ phía khách hàng hay ngân hàng, thì khi rủi ro tín dụng xảy ra, đều dẫn đến hậu quả khó lường. Trước tiên là sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng bởi đồng vốn đưa ra không được thu hồi cả gốc lẫn lãi do khách hàng không trả được nợ.