Chương 1: Những vấn đề chung về quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại và Hiệp ước Basel II Chương 2: Thực trạng ứng dụng hiệp ước Basel II trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chất lượng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam đáp ứng yêu cầu Basel II. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Từ trước đến nay, công tác quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại được thực hiện theo các văn bản quy định của ngân hàng nhà nước, mặc dù trên tinh thần của Basel I nhưng đã được chỉnh sửa cho phù hợp với trình độ quản lý và năng lực thực hiện của các ngân hàng thương mại. Đề tài này hướng đến việc phân tích rõ những mặt đạt được cũng như tồn tại trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 của Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam, từ đó giúp cho ngân hàng xác định mục tiêu cụ thể cần phải thực hiện để hoàn thiện việc ứng dụng Basel II nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NHTM VÀ HIỆP ƢỚC BASEL II 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng và nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 1.1 Rủi ro tín dụng Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là một trong những chức năng cơ bản của ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. Theo Quyết định số 493/2005/QĐ– NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.2 Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Nguyên nhân khách quan Môi trƣờng kinh tế Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm các hoạt động kinh tế có quan hệ biện chứng ràng buộc lẫn nhau nên bất kỳ một sự biến động của hoạt động kinh tế nào đó cũng sẽ gây ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của các lĩnh vực còn lại.
Hoạt động của ngân hàng thương mại có thể được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Khi nền kinh tế ổn định, quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiến hành bình thường, không bị ảnh hưởng của các yếu tố lạm phát, khủng hoảng, sẽ làm khả năng vay nợ và trả nợ vay không bị biến động lớn. Không chỉ giới hạn trong môi trường kinh tế của một quốc gia mà các biến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 động về kinh tế tài chính trên thế giới đều có sự tác động tới hoạt động tín dụng của ngân hàng, nhất là khi quan hệ kinh tế quốc tế được mở rộng giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến họat động sản xuất kinh doanh của người đi vay.
Môi trƣờng pháp lý Là một nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ tới rủi ro tín dụng. Đó là sự thiếu đồng bộ trong hệ thống các văn bản pháp luật, các biện pháp thi hành pháp luật và sự tuân thủ không nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể tham gia kinh doanh và các ngành có liên quan. Chính nhân tố môi trường này đã không đảm bảo tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, không tạo ra tính an toàn cho các hoạt động kinh doanh. Nhân tố xã hội Là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng.
Tín dụng là sự vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin. Do đó đạo đức xã hội có liên quan tới rủi ro tín dụng trong trường hợp lợi dụng lòng tin để lừa đảo hoặc do trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết dẫn tới hiểu chưa đúng đắn bản chất của hoạt động ngân hàng nói chung, hoạt động tín dụng nói riêng. Môi trƣờng tự nhiên Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi trường tự nhiên như thiên tai, hạn hán, lũ lụt, động đất, hoả hoạn…làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là trong các ngành có liên quan đến nông nghiệp, thuỷ sản, hải sản. Vì vậy khi môi trường tự nhiên không thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn từ đó làm giảm chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại.
Những nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của nhà nƣớc Bên cạnh đó những thay đổi, điều chỉnh về cơ chế, về chính sách kinh tế vĩ mô cũng có thể đặt doanh nghiệp vào những tình huống khó khăn có thể kéo theo nguy cơ thiệt hại cho ngân hàng. Các chính sách của nhà nước ổn định hay không ổn định cũng tác động đến chất lượng tín dụng. Khi các chính sách này không ổn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 định sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó gây trở ngại cho ngân hàng khi thu hồi nợ và ngược lại. Nguyên nhân chủ quan Các nhân tố thuộc về khách hàng Trong quan hệ tín dụng ngân hàng luôn có hai chủ thể là khách hàng và ngân hàng.
Theo thống kê cho thấy, khả năng xảy ra rủi ro tín dụng xuất phát từ khách hàng là phổ biến nhất bởi khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay, vì vậy khách hàng cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Năng lực của khách hàng là nhân tố quyết định đến việc khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả hay không. Nếu năng lực quản trị, kinh nghiệm điều hành còn hạn chế, không đủ khả năng ứng phó trước những biến động thị trường dẫn đến họat động kinh doanh không đạt hiệu quả như kế họach đã đề ra, từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng, chất lượng tín dụng của ngân hàng bị ảnh hưởng. Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, cố tình lập các chứng từ rút vốn vay giả mạo, sử dụng vốn vay khác với mục đích đã trình bày trong phương án vay vốn.
Thiếu minh bạch và chính xác trong việc cung cấp các báo cáo tài chính, phần lớn các doanh nghiệp đều có hai đến ba báo cáo với số liệu khác nhau về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh, một báo cáo là để theo dõi tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp, một báo cáo là để nộp cho cơ quan thuế và báo cáo còn lại là để giải trình cho ngân hàng khi có nhu cầu vay vốn. Như vậy, khách hàng vừa là người mang lại thu nhập cho ngân hàng đồng thời đưa lại cho ngân hàng cả những nguy cơ rủi ro. Cho nên nếu hạn chế được những nguy cơ đó sẽ làm tăng đáng kể lợi nhuận cho ngân hàng. Nhân tố từ phía ngân hàng Ngoài nhân tố ảnh hưởng từ nhân tố khách hàng, rủi ro tín dụng cũng chịu ảnh hưởng bởi nguyên nhân từ phía ngân hàng bởi ngân hàng là chủ thể quyết định cho vay.
Những ảnh hưởng từ nhân tố này được tổng hợp như sau: Chính sách tín dụng của ngân hàng: chính sách và quy trình cho vay lỏng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 lẻo, định hướng tín dụng chưa đạt được tầm chiến lược. Như vậy, một chính sách tín dụng thiếu linh hoạt, không phù hợp cũng là nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ rủi ro tín dụng. Phẩm chất và trình độ cán bộ tín dụng: chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng là nhân tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và trong hoạt động tín dụng nói riêng. Gắn liền với hạn chế về năng lực là vấn đề về phẩm chất đạo đức của cán bộ.
Tư chất đạo đức kém, thiếu tinh thần trách nhiệm làm cho con người dễ bị lôi cuốn bởi những cám dỗ vật chất có thể hành động trái đạo lý, trái pháp luật, gây thiệt hại đáng kể cho ngân hàng. Kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại và đa dạng như việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp. Công tác quản lý rủi ro tín dụng và kiểm soát sau cho vay chưa được chú trọng, chỉ mang tính hình thức. Các ngân hàng thường tập trung nhiều cho việc thẩm định trước khi cho vay mà không chú trọng trong quá trình kiểm tra, kiểm soát vốn sau khi cho vay.
Khoản cho vay cần phải được theo dõi và giám sát việc sử dụng vốn vay nhằm đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích với phương án vay ban đầu. Tóm lại, trên thực tế RRTD có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Do vậy bên cạnh việc đánh giá, nhận định các yếu tố kinh tế vĩ mô, các NHTM cần phải có những biện pháp phòng ngừa RRTD ngay từ khi bắt đầu đi thẩm định, trong suốt quá trình thu nợ ngân hàng cũng cần phải quan tâm theo dõi hoạt động kinh doanh của khách hàng một cách chặt chẽ, phải có những biện pháp cụ thể để tránh gặp phải những rủi ro có thể phát sinh.2 Nội dung công tác quản trị rủi ro tín dụng 1.1 Nội dung chính của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Đối với bất cứ một hoạt động kinh doanh nào, khi rủi ro xảy ra đều kéo theo những ảnh hưởng khó lường và hậu quả của chúng cũng không dễ dàng khắc phục, với rủi ro trong hoạt động tín dụng cũng vậy. Chính vì thế, quản trị rủi ro tín dụng được coi là hoạt động trọng tâm trong các tổ chức tài chính ngân hàng bởi kiểm soát và quản lý rủi ro chặt chẽ đồng nghĩa với việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 vốn huy động.