CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG. Khái niệm về thanh tra, kiểm tra và mối quan hệ giữa thanh tra và kiểm tra. - Kiểm tra, theo từ điển Tiếng Việt là xem xét tình hình thực tế để đánh giá nhận xét. Theo từ điển luật học thì kiểm tra là xem xét tình hình thực tế thực thi pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá nhận xét, ….
- Hiểu một cách chung nhất, kiểm tra là hoạt động của chủ thể kiểm tra tiến hành xem xét tình hình thực tế đối với đối tượng kiểm tra để đưa ra những đánh giá, nhận xét, đề xuất kiến nghị hoặc xử lý. - Thanh tra, theo từ điển Tiếng việt là cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, tổ chức để phát hiện và ngăn chặn những gì trái với quy định, giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng chống tiêu cực trong phạm vi nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan, tổ chức cá nhận có thẩm quyền, thuật ngữ thanh tra cũng được dùng để chỉ người làm nhiệm vụ thanh tra. - Nói cách khác thanh tra là hoạt động kiểm tra, xem xét việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước, nhiệm vụ được giao của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân do các cơ quan thanh tra có thẩm quyền thực hiện nhằm phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan. - Quan hệ giữa kiểm tra và thanh tra là hoạt động thanh tra và kiểm tra có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi và có nhiều điểm giao thoa nhau.
Trước hết, kiểm tra, thanh tra đều là những công cụ quan trọng, chức năng chung của quản lý nhà nước. Thứ hai, kết quả của kiểm tra, thanh tra được cơ quan quản lý nhà nước sử dụng để phân tích, đánh giá theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đề ra. Đây là mối quan hệ đan chéo nhau. Thứ ba, là nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra, ngược lại nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì thanh tra lại bao gồm cả kiểm tra.
2 Các hoạt đông thao tác nghiệp vụ trong một thanh tra lại bao gồm cả kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế, đối chiếu, đánh giá,. đó chính là kiểm tra. Tuy nhiên, với tư cách là hai hoạt động độc lập, kiểm tra và thanh tra cũng có những điểm khác biệt: Một là, về chủ thể tiến hành thanh tra và kiểm tra. Tuy cả hai hoạt động này có một chủ thể chung, đó là Nhà nước, nhưng chủ thể kiểm tra đa dạng và rộng hơn của thanh tra rất nhiều.
Trong khi chủ thể tiến hành một cuộc thanh tra phải là cơ quan thanh tra được quy định tại Luật thanh tra 2010, thì chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là Nhà nước hoặc không. Hai là, về cơ sở pháp lý, hoạt động thanh tra được thực hiện trên cơ sở pháp lý quy định tập trung, đầy đủ Luật thanh tra 2010, trái ngược lại hoạt động kiểm tra không được quy định cụ thể tại văn bản pháp luật. Ba là, về phạm vi hoạt động, phạm vi hoạt động của thanh tra thường hẹp hơn so với phạm vi hoạt động của kiểm tra. Phạm vi hoạt động của thanh tra thường được diễn ra thường xuyên, trên diện rộng, không bắt buộc theo trình tự, hình thức, thủ tục nghiêm ngặt như hoạt động thanh tra.
Bốn là, về phương pháp tiến hành, phương pháp tiến hành của hoạt động thanh tra bao gồm xem xét, kết luận và ở mức độ nào đó được người quản lý ủy quyền xử lý những việc làm sai quy định của đối tượng thanh tra. Đồng thời, trong hoạt động thanh tra bao gồm xem xét, kết luận những sự việc diễn ra có đúng những quy tắc đã được thiết lập hay không và không có quy định về áp dụng các biện pháp đảm bảo, xử lý. Những khác biệt trên đây chỉ là tương đối. Khi tiến hành cuộc thanh tra, thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ đó chính là kiểm tra.
Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra để làm rõ vụ việc, lại lựa chọn nội dung cần thanh tra. Kiểm tra và thanh tra là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên quan qua lại, gắn bó với nhau. Thanh tra chuyên ngành xây dựng. Tổ chức hệ thống Thanh tra xây dựng.
- Theo từ điển Tiếng Việt, thanh tra là kiểm soát, xem xét lại việc làm của địa phương, cơ quan,. 3 - Theo Luật thanh tra số 56/2010/QH12 được Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15/11/2010 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2011 thì các cơ quan Thanh tra gồm các cơ quan thanh tra của nhà nước, thanh tra hành chính và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. - Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. - Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.
- Theo quy định tại Nghị định số 26/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ quy định về tổ chức hoạt động của thanh tra ngành xây dựng được tổ chức ở hai cấp Bộ và cấp Sở. - Thanh tra Bộ Xây dựng là cơ quan thuộc Bộ Xây dựng, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng. - Thanh tra Sở Xây dựng là cơ quan trực thuộc Sở Xây dựng dựng, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý của nhà nước về xây dựng của Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố. - Thanh tra Sở Xây dựng thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức các đội đặt tại địa bàn cấp huyện.
- Như vậy, hoạt động thanh tra không chỉ giới hạn là hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội được thực hiện bởi các cơ quan thanh tra nhà nước mà hoạt động thanh tra còn thể hiện dưới nhiều hình thức như thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo; thanh tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về thanh tra, thực hiện biện pháp phòng, chống tham nhũng. - Thanh tra xây dựng là hoạt động của chủ thể quản lý xây dựng nhằm kiểm tra xem xét việc làm của tổ chức, đơn vị, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. 4 - Thanh tra xây dựng là thanh tra chuyên ngành về xây dựng. Thanh tra xây dựng thực hiện quyền thanh tra trong quản lý nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực xây dựng.
- Hoạt động thanh tra xây dựng cũng chia làm hai nhóm: Thanh tra hành chính trong lĩnh vực xây dựng và thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực. - Thanh tra xây dựng thành hệ thống ở Trung ương là Thanh tra Bộ Xây dựng (sau đây gọi tắt là Thanh tra Bộ) và ở địa phương là Thanh tra Sở xây dựng (sau đây gọi tắt là Thanh tra Sở); thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vị quản lý nhà nước về: Xây dựng, vật liệu xây dựng, nhà ở và công sở, kiến trúc, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, hạ tầng kỹ thuật đô thị theo quy định của pháp luật. Đối tượng và hình thức Thanh tra xây dựng. Theo Điều 37 Luật thanh tra 2010, hoạt động thanh tra được tiến hành thực hiện theo ba hình thức: Hoạt động thanh tra được thực theo kế hoạch, thanh tra thường xuyên hoặc thanh tra đột xuất [12].
- Thanh tra theo kế hoạch được tiến hành theo kế hoạch đã được phê duyệt. - Thanh tra thường xuyên được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. - Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao. Nội dung của Thanh tra xây dựng.
Nội dung Thanh tra hành chính. Thanh tra Bộ xây dựng, Thanh tra Sở xây dựng thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ được giao của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng và của Sở Xây dựng theo ủy quyền hoặc phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Nội dung của Thanh tra chuyên ngành xây dựng. Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về quy hoạch, kiến trúc.
5 - Về công tác lập thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch xây dựng: Quy hoạch xây dựng vùng; quy hoạch xây dựng đô thị; quy hoạch xây dựng điểm, dân cư nông thôn mới; quy hoạch xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, các cửa khẩu biên giới quốc tế. - Về công tác quản lý quy hoạch xây dựng: Công bố công khai quy hoạch xây dựng; cắm mốc chỉ giới xây dựng và mốc giới quy định khác ngoài thực địa; cấp giấy phép quy hoạch; cung cấp thông tin về quy hoạch xây dựng; thực hiện xây dựng theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt. - Việc quản lý, sử dụng vốn cho công tác quy hoạch xây dựng theo thẩm quyền. - Điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia thiết kế quy hoạch xây dựng; điều kiện hành nghề kiến trúc sư, điều kiện hành nghề kỹ sư quy hoạch đô thị; việc đào tạo, cấp và quản lý chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư, chứng chỉ hành nghề kỹ sư quy hoạch đô thị.
Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư, về hoạt động xây dựng. - Việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình. - Việc lập, thẩm định, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, tổng dự toán, dự toán xây dựng công trình.