TÓM TẮT Những năm gần đây, nhiều công trình đã và đang áp dụng cọc đất - xi măng để xử lý nền đất yếu. Đây là một ứng dụng sự polime hóa thiên nhiên vào trong lĩnh vực vô cơ. Vật liệu bở rời như đất sét, Silic được hóa đá trong môi trường nhân tạo. Thời gian polime hóa bằng với thời gian đóng rắn của xi măng.
Đất nền sau khi gia cố xi măng sẽ cải thiện được độ cứng chắc, và khả năng chịu tải. Nội dung bài báo này tập trung vào việc nghiên cứu điều chỉnh lại thành phần hạt của đất yếu, trong hỗn hợp đất - xi măng, bằng cách thêm một lượng cát vừa phải. Kết quả thí nghiệm trong phòng của các mẫu đất yếu thuộc khu vực Trường đại học Tây Đô cho thấy khả năng chịu nén đơn trục của mẫu đất có thêm cát cao hơn hẳn mẫu đất chỉ gia cố bằng xi măng. Phương pháp này hứa hẹn sẽ là một sự lựa chọn tốt để xử lý nền đất yếu thuộc khu vực thành phố Cần Thơ.
Từ khóa: cọc đất - xi măng, hỗn hợp đất - xi măng - cát, cường độ chịu nén đơn ABSTRACT In recent years, many projects have been applying soil - cement to treat soft soil. This is a natural polymerization application in the field of inorganic artificial stone materials such as clay, silicon in artificial environment with polymerization time equal to the curing time of cement. Grounding after cement curing improves rigidity, and load bearing capacity. The content of the article focuses on the improving component of soft soil, in soil-cement mixture, by adding a moderate amount of sand.
The specimens of soft soil taken in Tay Do University showed that the compressive strengths of the sandy soil-cement are higher than that of cement only. This method promises to be a good choice to treat the soft soil in Can Tho city. Keywords: pile of soil-cement, soil-cement-sand mixture, the compressive strength Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI: 1.
Tình hình nghiên cứu trong và nƣớc ngoài: 1.1 Tình hình nghiên cứu nƣớc ngoài: Kỹ thuật gia cố đất bằng xi măng đƣợc thí điểm thành công ở Nga vào những năm 1912. Năm 1925 - 1932 một số công trình nghiên cứu của các tác giả nhƣ: V.Janôpxki về đất gia cố vôi, M.Philatôp về gia cố đất bằng nhiệt. Năm 1932 - 1940 là thời kỳ nghiên cứu phát triển giữa nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và nghiên cứu mở rộng các phƣơng pháp gia cố cũng nhƣ việc tìm tòi những nguyên tắc cơ bản của kỹ thuật đất gia cố của đồng thời các tác giả vừa nêu trên. 1 Tính tới năm 1976 ở Nga, đã xây dựng đƣợc trong các vùng đất và khí hậu khác nhau, 13.000Km nền đƣờng và lớp áo đƣờng bằng đất gia cố với ximăng, bitum, vôi và các chất khác.
Trong công tác xây dựng sân bay, một khối lƣợng lớn đất gia cố cũng đã đƣợc sử dụng. Bên cạnh đó còn có một số nƣớc áp dụng phƣơng pháp đất gia cố để làm nền đƣờng nhƣ: Ukrain (3500km - 1974), Kadaxtăng (5. [1 Tại Anh, theo tác giả Williams 1986 thì việc gia cố nền đƣờng bằng vôi, xi măng đã đƣợc ứng dụng cách đây hơn 50 năm. Vào những năm (1945 – 1965), Phòng Thí Nghiệm Nghiên Cứu Về Đƣờng, nay là Viện Nghiên Cứu Giao Thông của Anh đã cho triển khai ra thực tiễn phƣơng pháp gia cố đất trong những điều kiện khác nhau cho các công trình xây dựng đƣờng và vẫn còn tiếp tục phát triển cho đến ngày nay.
2 Phƣơng pháp trộn dƣới sâu (Deep mixing method - DMM) là một phƣơng pháp mới để gia cố nền đất yếu. Mỹ là nƣớc đầu tiên nghiên cứu về cọc xi măng trộn tại chỗ (Mix in place pile - MIP), đƣờng kính cọc 0,3 - 0,4m, dài 10 - 12m. Năm 1950 phƣơng pháp này đƣợc đƣa vào Nhật Bản; năm 1974 Viện Nghiên Cứu 1 Hải Cảng và Bến Tàu (PHRI - Port and Harbour Research Institute) báo cáo tổng kết phƣơng pháp trộn vôi dƣới sâu (DLM - Deep Lim Mixing) và sau đó phƣơng pháp này đƣợc áp dụng rộng rãi ở Nhật. Năm 1975, PHRI đã nghiên cứu và phát triển phƣơng pháp trộn ximăng dƣới sâu (CMD - Cement Deep Mixing) nhằm mục đích xử lý nền sét yếu ở bờ biển.
3 Năm 1977, Trung Quốc bắt đầu thí nghiệm trong phòng và nghiên cứu chế tạo máy hai trục đầu tiên để trộn dƣới sâu. Từ những năm 80 đến nay, nhiều công ty, viện nghiên cứu của các nƣớc trên thế giới nhƣ: Mỹ, Liên Xô, Thuỵ Điển, Nhật Bản, Trung Quốc, Phần Lan,.đã không ngừng cải tiến và nâng cao về kỹ thuật cũng nhƣ về thiết bị thi công hiện trƣờng, công nghệ gia cố đất bằng vôi, ximăng, .xử lý nền đất yếu đã thật sự phát triển. 2 Tại Đông Nam á, cọc đất - vôi, cọc đất - vôi - ximăng không đƣợc áp dụng rộng vì thiếu thiết bị thi công, chi phí khai thác vôi sống tinh khiết cao. Nhƣng nếu áp dụng cọc đất - ximăng cho các loại đất sét ven biển hoặc các dạng bùn sét hữu cơ thƣờng gặp tại một số thành phố lớn nhƣ Bangkok, Manila, Jakarta, Hà nội và các tỉnh thành đồng bằng sông Cửu long,.thì sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao và là một giải pháp hợp lý.
Tình hình nghiên cứu trong nƣớc: Ở nƣớc ta một số cơ quan thiết kế đã và đang áp dụng cọc đất vôi khi xây dựng công trình trên nền đất yếu ở các vùng đồng bằng nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Đồng Bằng Sông Cửu Long,. nhƣng vẫn còn trong phạm vi hẹp, chƣa đƣợc phổ biến rộng rãi. Đầu những năm 80 với sự giúp đỡ của Viện Địa Kỹ Thuật Thụy Điển, luận văn nghiên cứu về cọc đất - vôi - ximăng đƣợc Bộ Xây Dựng nghiệm thu vào năm 1985 và đã đƣợc áp dụng cho một số công trình dân dụng, công nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng. 5 Năm 2001 Công ty Hercules (Thuỵ Điển) kết hợp với Công ty phát Triển Kỹ Thuật Xây Dựng đã làm loại cọc đất-ximăng-vôi sâu tới 20m bằng hệ thống tự động từ khâu khoan, phun ximăng và trộn cho công trình Tổng Kho xăng dầu Hậu Giang tại Khu Công nghiệp Trà Nóc, TP.
Cần Thơ với tổng chiều dài cọc gần 50. 2 2 Bên cạnh đó, một số báo cáo nghiên cứu của các tác giả trong nƣớc cũng đề cập đến vấn đề gia cố đất với vôi và xi-măng nhƣ: 1. Trần Kim Thạch, Huỳnh Ngọc Sang, “Sự Xuyên Sinh Của Phù Sa Trong Bồn Trầm Tích Hạ Lƣu Sông Cửu Long và Ứng Dụng”, 2005; 2. Huỳnh Ngọc Sang, “Xử Lý Nền Đất Yếu Bằng Phƣơng Pháp Cọc Đất Xi Măng Kết Hợp Gia Tải Nén Trƣớc” 2005; 3.
Nguyễn Văn Thành , Huỳnh Ngọc Sang, Thiềm Quốc Tuấn, “Đặc điểm cô kết của sét holocene và pleistocene ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh”, 2008. Một số luận văn thạc sĩ của các tác giả trong nƣớc cũng đề cập đến vấn đề gia cố đất với vôi và xi-măng: 4. Bùi Tấn Mẫn, đề tài: „„Xử lý nền đất yếu dƣới nền đƣờng bằng giải pháp cột đất - xi măng/ vôi và cột đất - xi măng/vôi - tro trấu‟‟, 2001; 5. Nguyễn Kiết Hùng, „„Nghiên cứu xử lý nền đất dính yếu nhiễm mặn, nhiễm phèn khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận dƣới nền đƣờng đê đập bồn chứa bằng giải pháp cột đất - vôi và cột đất – ximăng‟‟2002; 6.
Trần Hải Đăng, „„Nghiên cứu xử lý nền đất yếu dƣới móng công trình chịu tải phân bố đều bằng giải pháp cọc xi măng đất sợi xơ dừa‟‟2003; 7. Hà Quốc Đông, „„Các đặc trƣng cơ học của đất bùn sét khu vực Tp. Cần thơ khi gia cố bằng phƣơng pháp trộn xi măng‟‟2005. Các công trình cọc xi măng đất thực tế tại Đồng Bằng Sông Cửu Long: 1.
Công trình: cống SD6 - SD7 – huyện Trần Văn Thời – tỉnh Cà Mau 2. Dự án: Đầu tƣ Xây dựng hệ thống thủy lợi Tiểu vùng II - Nam Cà Mau 3. Dự án nhà máy điện Ô Môn 4. Dự án Thủy lợi Xã Nhơn Nghĩa A, Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang 5.
Kho cảng Cái Cui tỉnh Hậu Giang 6. ĐẾ TÀI SỐ 306/HĐ-NCKH: „„Nghiên cứu ứng dụng giải pháp xử lý nền móng công trình Thuỷ Lợi trên vùng đất yếu Đồng bằng sông Cửu Long bằng cột Đất – Ximăng khoan trộn sâu”. Dự án Đƣờng cao tốc Cần Thơ sân bay Trà Nóc. 3 Đây là một ứng dụng sự polime hóa thiên nhiên vào trong lĩnh vực vô cơ.
Vật liệu bở rời nhƣ đất sét, Silic đƣợc hóa đá trong môi trƣờng nhân tạo. Thời gian polime hóa bằng với thời gian đóng rắn của xi măng. Đất nền sau khi gia cố xi măng sẽ cải thiện đƣợc độ cứng chắc, và khả năng chịu tải. Khả năng triển khai ứng dụng: Nhƣ chúng ta đã biết tầng bùn sét hữu cơ là tầng đất yếu đặc trƣng cho khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm ở độ sâu từ 1-1,5m, dày 9 - 20m.
6 Thông thƣờng móng các công trình xây dựng không thể đặt trực tiếp lên tầng đất yếu này mà không qua một biện pháp xử lý nào. Các công trình xây dựng tại khu vực này thƣờng sử dụng cọc cừ tràm cho các công trình có tải trọng nhỏ; Các công trình có tải trọng lớn thì áp dụng cọc ép bê tông cốt thép, cọc khoan nhồi đƣờng kính lớn D>600cm (ít đƣợc áp dụng vì chi phí cao) 7,8,9 , cọc khoan nhồi đƣờng kính nhỏ D<600cm (đang đƣợc áp dụng nhiều nhƣng chƣa có nhiều các nghiên cứu và các biện pháp kiểm tra chất lƣợng). Biện pháp gia cố nền đƣờng và các công trình dân dụng dùng hỗn hợp đất- xi măng bằng phƣơng pháp khoan phụt đã chứng tỏ đƣợc tính hiệu quả cao về kinh tế và kỹ thuật 1,2,3,4. Phƣơng pháp cọc đất-xi măng đòi hỏi ngƣời cán bộ kỹ thuật ngoài công trƣờng không chỉ am hiểu về đặc tính của hỗn hợp đất gia cố, mà còn phải nắm rỏ điều kiện tự nhiên của khu vực áp dụng, điều kiện địa chất, địa chất thủy văn, đặt tính cơ, hóa, lý của cả đất và nguồn nƣớc.
Bởi vì các yếu tố này là những yếu tố quan trọng liên quan đến cƣờng độ của hỗn hợp đất gia cố. Trong đó, thành phần hạt là yếu tố quan trọng nhất quyết định cƣờng độ của hỗn hợp đất gia cố. Hơn nữa, một số sự cố có thể xảy ra trong quá trình thi công. Phƣơng pháp cọc đất-xi măng có thể gây ra trƣơng nở nền, gây ra các chuyển vị quá giới hạn trong lòng đất do quá trình ninh kết đóng rắn của xi măng.
1 Áp lực siêu cao do máy bơm cũng có khả năng gây nên rạn nứt nền đất lân cận. Tia vữa có thể lọt vào các công trình ngầm sẵn có nhƣ hố ga, tầng hầm lân cận.