CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG VÀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI HỘ NÔNG DÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HỘ NÔNG DÂN 1. Khái niệm về hộ nông dân Nông nghiệp là một ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới. Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp bao gồm hai lĩnh vực: trồng trọt và chăn nuôi.
Theo nghĩa rộng, nông nghiệp bao gồm 3 lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Nguồn nhân lực trong nông nghiệp là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Những thành viên lao động trong nông nghiệp có chung huyết thống và người làm công, có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung hợp thành một hộ gia đình nông nghiệp. Tài sản chung của hộ gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng, cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ.
Ở Việt Nam, hộ là một lực lượng sản xuất to lớn bao gồm: Hộ nông dân; Hộ tư nhân, cá thể; Hộ gia đình xã viên; Hộ nông-lân trường viên. Phần lớn hộ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và ở nông thôn có thể gọi chung là Hộ nông dân hay Nông hộ. Tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia 8 cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao" [7], [19]. Kinh tế nông hộ hay còn gọi kinh tế hộ nông nghiệp là hình thức kinh tế tự chủ trong kinh doanh nông nghiệp, dựa trên cơ sở sức lao động của gia đình là chính và quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng lâu dài phần ruộng đất mà họ canh tác cùng với các tư liệu sản xuất khác.
Ngày nay, kinh tế nông hộ đã trở thành một nhân tố quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. Ở nước ta, từ khi đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, kinh tế nông hộ đã từng bước chuyển biến từ kinh tế nông hộ sản xuất tự cấp tự túc (tiểu nông) lên kinh tế nông hộ sản xuất hàng hoá (hộ nông trại) hay (nông trại gia đình). Các hình thức tổ chức cho vay đối với hộ nông dân [27, tr. Cho vay trực tiếp Cho vay trực tiếp là quan hệ tín dụng trong đó khách hàng có nhu cầu về vốn giao dịch trực tiếp với ngân hàng để vay và trả nợ.
Với phương thức này, việc cấp tín dụng có thể thực hiện song phương hay đa phương. Với phương thức đa phương, ngoài ngân hàng và khách hàng còn có bên thứ 3 là những nhà cung ứng đầu vào hay các nhà chế biến, bao tiêu nông sản. Phương thức cho vay này sẽ giúp ngân hàng giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay. - Ngân hàng cho hộ nông dân vay để trả tiền vật tư cho công ty cung ứng vật tư.
Hình thức cấp tín dụng này phù hợp với những món vay nhỏ, thời hạn ngắn và ngân hàng sẽ khó giám sát mục đích sử dụng vốn vay của hộ. Ngoài ra, do hộ nông dân sinh sống ở những nơi có điều kiện giao thông không thuận lợi nên sẽ gây bất lợi trong việc tiếp cận với ngân hàng nơi cho vay. Tuy nhiên, phương thức cho vay này giúp nông hộ tránh được trường hợp phải tìm mua các yếu tố đầu vào giá cao cho nên công việc sản xuất thuận tiện 9 hơn tạo dấu hiệu tốt cho việc hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. - Ngân hàng cho hộ nông dân vay tiền để đầu tư sản xuất, sau đó hộ nông dân giao nông sản cho công ty tiêu thụ vật tư bán, cuối cùng công ty tiêu thụ vật tư hoàn trả tiền vay cho ngân hàng.
Trong hợp đồng tín dụng này, ngoài ngân hàng và hộ nông dân, còn có sự tham gia của các tổ chức bao tiêu sản phẩm nên khi tiến hành thu nợ thì ngân hàng sẽ thông qua tổ chức này. Phương thức này giúp nông hộ giải quyết khâu tiêu thụ hàng nông sản, hạn chế được rủi ro giá cả. Từ đó, giúp các ngân hàng giảm thiểu được nợ xấu trong cho vay nông nghiệp nông thôn. Cho vay bán trực tiếp Cho vay bán trực tiếp là hình thức cho vay được áp dụng từ Bangladesh, và nhân rộng ra ở các nước châu Á.
Tại Việt Nam, áp dụng mô hình cho vay này vào những năm cuối thập niên chín mươi và dưới cái tên gọi như cho vay theo tổ liên doanh, liên đới, cho vay theo tổ hợp tác vay vốn, cho vay theo tổ tiết kiệm vay vốn… - Cho vay theo tổ hợp tác vay vốn. Với phương thức này, thường từ 10 đến 40 hộ nông dân thành lập một tổ hợp tác vay vốn (đặc điểm của tổ là cùng thôn, cùng nuôi trồng một cây con hoặc cùng giống nhau về mục đích vay vốn, tổ phải được thành lập tự nguyện và bầu ra tổ trưởng để đại diện pháp lý trong giao dịch với ngân hàng). Trên cơ sở quy định cho vay của ngân hàng, các tổ viên làm giấy đề nghị vay vốn, tổ tiến hành họp và xét theo các điều kiện và nhất trí về số tiền vay. Sau đó tổ trưởng tập hợp lại và gởi tới ngân hàng cùng các giấy tờ khác.
Nhân viên ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định và thông báo số tiền vay của từng hộ và cho cả tổ. Tổ trưởng là người trực tiếp nhận tiền vay, theo dõi nợ vay và thu nợ để chuyển trả cho ngân hàng. - Cho vay theo tổ liên danh, liên đới vay vốn. Cách thành lập của tổ này cũng giống như tổ hợp tác vay vốn.
Tuy nhiên, theo kiểu tổ chức này, mỗi 10 thành viên trong tổ phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước việc hoàn trả nợ đúng hạn của các thành viên còn lại trong tổ. Khi chưa trả hết nợ, ngân hàng sẽ không cho tổ vay món mới. Phương thức này thường áp dụng cho những món cho vay lớn, thời gian vay dài. Cho vay gián tiếp Trong phương thức cho vay này, ngân hàng cấp tín dụng cho các hộ nông dân, trang trại thông qua 1 tổ chức trung gian.
Tổ chức trung gian này thường là các nhà cung ứng vật tư hay nhà chế biến, bao tiêu nông sản. - Cho các tổ chức trung gian vay để ứng vốn cho các hộ sản xuất nông nghiệp. Trong trường hợp này, các tổ chức trung gian thường là nhà chế biến như nhà máy đường, chế biến đồ hộp,. Phương thức cho vay được thực hiện như sau: ngân hàng cho công ty vay, công ty ứng vốn cho các hộ nông dân sản xuất, đến vụ thu hoạch, các công ty mua sản phẩm của người nông dân, đồng thời thu các khoản nợ đã ứng từ đầu vụ và công ty trả nợ lại cho ngân hàng.
- Mua các hợp đồng bán trả chậm về vật tư, máy móc nông nghiệp. Các công ty kinh doanh về vật tư nông nghiệp có thể bán trả chậm cho hộ nông dân, sau đó ngân hàng sẽ mua lại các hợp đồng này, tức ngân hàng sẽ cho các doanh nghiệp này vay lại trên cơ sở các hợp đồng bán trả chậm. Những đặc trưng cơ bản trong cho vay trung và dài hạn của ngân hàng thương mại đối với hộ nông dân [25] a. Đối tượng vay vốn trung và dài hạn Đầu tư trung, dài hạn của hộ nông dân nhằm mục đích hình thành nên TSCĐ, đây là loại tài sản có thời gian sử dụng dài, giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, biểu hiện dưới hình thái hiện vật là đất đai, công trình xây dựng như nhà xưởng, chuồng trại, kho bãi, sân phơi, chi phí cải tạo đất, chi phí hình thành đàn gia súc, xây dựng ao đìa, vườn cây lâu năm, chi phí tàu thuyền., và các loại máy móc thiết bị chuyên dùng như súc 11 vật cày kéo, máy động lực cơ điện, công cụ máy móc nông nghiệp,.
Đối tượng cho vay trung, dài hạn của ngân hàng đối với hộ nông dân là các đối tượng kể trên. Nhưng riêng đối với yếu tố ruộng đất, là tư liệu sản xuất chủ yếu, giá trị rất lớn, là yếu tố bắt buộc phải có để cho vay, vì vậy, ngân hàng không tính vào đối tượng cho vay. Tuy nhiên, đối với các hộ nông dân sản xuất quy mô lớn (trang trại), phải đi thuê đất thì chi phí thuê đất cũng là thuộc đối tượng để ngân hàng xem xét cho vay nếu phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Mức cho vay trung và dài hạn Xuất phát từ đặc thù của tổ chức sản xuất nông nghiệp nên cần có cách thức xác định mức cho vay phù hợp với từng ngành nghề và tính đặc thù của mỗi vùng.
Đó là mức cho vay tối đa trên đơn vị diện tích canh tác (trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản) hay trên đầu gia súc, hay trên đơn vị của ghe, tàu đánh bắt hải sản,., nhằm chuẩn hoá số tiền cho vay, thời hạn cho vay, tạo điều kiện cho công tác thẩm định, giám sát khoản vay của ngân hàng cũng như công tác định hướng về nguồn vốn, đồng thời giúp hộ nông dân làm ăn có tính toán, tiết kiệm chi phí, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật. Ngoài ra, mức vốn tự có tham gia của nông hộ cần phải đánh giá thận trọng nếu quy mô lớn và cần phải áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay. Cơ sở để xác định mức cho vay trung và dài hạn đối với mỗi hộ nông dân dựa trên 2 yếu tố sau: - Dựa vào chi phí sản xuất và mức vốn mà người nông dân phải tham gia. Về nguyên tắc, ngân hàng chỉ cho vay bù đắp sự thiếu hụt, người nông dân phải có vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Thông thường các ngân hàng thường đưa ra một tỷ lệ phần trăm về mức vốn tự có của người nông dân và mức cho vay của ngân hàng (thường ngân hàng chỉ cho vay từ 60% đến 70% chi phí sản xuất).