Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC CHO VAY CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Ngân hàng thương mại và công tác cho vay cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại, công tác cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ở Việt Nam, theo điều 20 luật các tổ chức tín dụng: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.
Luật này cũng định nghĩa : tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”[10,12] Với vai trò quan trọng của mình, ngân hàng thương mại cung cấp rất nhiều các dịch vụ ngân hàng, bao gồm các hoạt động chủ yếu sau: Hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động cung cấp các dịch vụ, trung gian tài chính. Trong đó, tín dụng là một hoạt động truyền thống của Ngân hàng thương mại và là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chính cho Ngân hàng, vì vậy tín dụng luôn được chú trọng ưu tiên phát triển. Công tác cho vay (hoạt động cho vay) của ngân hàng thương mại Cho vay của NHTM là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ NHTM (người sở hữu) sang khách hàng vay (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Hay có thể hiểu cho vay của NHTM là quan hệ giữa một bên là người cho vay (NHTM) bằng cách chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên người vay (khách hàng vay) để sử dụng trong một thời gian nhất định với cam kết của người vay là hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn.
Cho vay là quyền Cho vay của NHTM là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ của NHTM. 5 Vì vậy NHTM có quyền yêu cầu khách hàng vay phải tuân thủ những điều kiện mang tính pháp lý nhằm đảm bảo việc trả nợ khi đến hạn [14,18]. Hoạt động cho vay cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay cá nhân của ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay cá nhân là một hình thức cho vay mà đối tượng vay vốn là cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng hay phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Như vậy, cho vay cá nhân là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn của cá nhân, hộ gia đình. Nhu cầu vốn của cá nhân, hộ gia đình chủ yếu là nhu cầu về cư trú: mua sắm, sửa chữa, xây dựng nhà cửa; nhu cầu mua sắm tiện nghi: ô tô, xe máy…; nhu cầu chi tiêu hàng ngày; nhu cầu chi đào tạo, y tế, giáo dục; nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh quy mô hộ gia đình… [1,3] 1. Đặc điểm hoạt động cho vay cá nhân của ngân hàng thương mại Cho vay cá nhân là một bộ phận cho vay của NHTM, do đó cho vay cá nhân cũng mang các đặc điểm cho vay của NHTM như sau:[4,35] - Thứ nhất, cho vay là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin, ở đây người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả nợ. Cơ sở của sự tin tưởng này là do mục đích sử dụng vốn hiệu quả của người đi vay, do uy tín, do tài sản thế chấp hay do sự bảo lãnh của bên thứ ba.
- Thứ hai, cho vay là sự chuyển nhượng một lượng vốn tạm thời. Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn người cho vay thường xác định rõ thời gian cho vay và thời gian cho vay này thường được xác định căn cứ vào: + Mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, đó là chu kỳ luân chuyển vốn để tạo ra nguồn thu trả nợ cho ngân hàng. + Sự thỏa thuận giữa người đi vay vay bên cho vay để đảm bảo trả nợ đúng hạn - Thứ ba, cho vay là sự chuyển nhượng một lượng vốn tạm thời trên nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi. Đó là người đi vay phải hoàn trả khoản 6 nợ gốc đã vay ban đầu ngoài ra còn phải trả thêm một khoản nợ lãi cho ngân hàng, khoản lãi này được ngân hàng thu về để bù đắp cho chi phi hoạt động, chi phí đi huy động vốn của khách hàng để về cho vay, chi phí khác…[15,22] Ngoài các đặc điểm chung như đã nêu trên, cho vay cá nhân còn có các đặc điểm sau: - Các khoản vay khách hàng cá nhân không lớn, được chia làm nhiều khoản nhỏ lẻ riêng biệt, mạng lưới khách hàng cá nhân rộng lớn mặc dù thủ tục vay, hồ sơ, quy trình cho vay đơn giản nhưng khó kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng.
- Để một khoản vay cá nhân được thực hiện tốt ngoài việc khách hàng cá nhân có các điều kiện như mục đích sử dụng vốn vay đúng, tài sản đảm bảo, nguồn thu nhập tốt thì việc xác định tư cách khách hàng cá nhân để cho khoản vay giảm thiểu rủi ro là điều rất quan trọng và rất khó xác định xen tư cách khách hàng đó là tốt hay xấu vì thời gian thẩm định hồ sơ cá nhân ngắn, do vậy tư cách khách hàng cá nhân là quan trọng để xác định xen khoản vay đó có hoàn trả đúng thời hạn không như đã đưa ra. - Do quá trình thẩm định cho vay khách hàng cá nhân có thời gian ngắn, ít thông tin về khách hàng, các thông tin đó đưa ra chỉ mang tính định lượng còn thông tin thực tế khách hàng vay rất khó tìm được trong thời gian ngắn như: tư cách khách hàng vay, nguồn tài chính trả nợ đã đúng với thực tế như đã nêu trên không hay như mục đích sử dụng vốn đã đúng như kê khai…Do đó cho vay cá nhân chịu nhiều rủi ro khách quan và chủ quan đem lại và như vậy nó ảnh hưởng đến thời hạn hoàn trả nợ cho ngân hàng. - Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. Các khoản cho vay cấp cho KHCN là tương đối nhỏ so với cho vay cấp cho doanh nghiệp.
Hầu hết khách hàng tìm đến ngân hàng khi đã có số vốn tương đối và chỉ bổ sung phần còn thiếu. Tuy nhiên đối tượng vay là tất cả các cá nhân trong xã hội với nhu cầu hết sức đa dạng. - Lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn cho vay đối với doanh nghiệp. 7 - Nhu cầu vay của KHCN thường nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế, tăng lên khi nền kinh tế mở rộng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái.
Ngoài ra nhu cầu vay còn phụ thuộc nhiều vào hai biến số là mức thu nhập và trình độ học vấn của người vay. - Nguồn trả nợ của khách hàng chủ yếu phụ thuộc vào nguồn thu nhập của họ. Nguồn trả nợ này có thể có những biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kĩ năng và kinh nghiệm đối với công việc của họ. Sự kiểm soát các nguồn thu này nhiều khi rất khó khăn.
- Các khoản vay KHCN thường có độ rủi ro cao hơn cho vay với doanh nghiệp. Do vậy các khoản tín dụng KHCN luôn được quản lý chặt chẽ và linh hoạt, đảm bảo an toàn cho ngân hàng và thường là các khoản vay có tài sản đảm bảo. Phân loại hoạt động cho vay cá nhân của ngân hàng thương mại Về cơ bản, các tiêu chí để phân loại hoạt động cho vay khách hàng cá nhân cũng giống các tiêu chí để phân loại hoạt động cho vay chung. Có thể phân loại hoạt động cho vay khách hàng cá nhân theo một số tiêu chí sau: * Căn cứ vào thời hạn cho vay - Hoạt động cho vay ngắn hạn: là hoạt động cho vay có thời hạn đến 1 năm.
Hoạt động cho vay ngắn hạn là hình thức cho vay chủ yếu, vì nó thường phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cần thiết của cá nhân và hộ gia đình. Rủi ro cho ngân hàng là khá nhỏ khi cho vay ngắn hạn, vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có ngân hàng cũng có thể dự tính được. - Hoạt động cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm. Đối với KHCN, cho vay trung hạn phục vụ cho các nhu cầu vốn có thời hạn tương đối dài hơn như mua ô tô, xây dựng nhà cửa….
- Hoạt động cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Đối với KHCN cho vay dài hạn được cung cấp khi quy mô khoản vay lớn, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu mua sắm đất đai, nhà cửa. Nhìn chung, đối với ngân hàng, cho vay dài hạn tiềm ẩn rủi ro lớn. 8 * Căn cứ vào mục đích cho vay Các sản phẩm cho vay dành cho KHCN thường được phát triển và thiết kế tương tự như sản phẩm tín dụng truyền thống nhưng có những nét đặc thù riêng của từng NHTM.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn của KHCN, có thể chia tín dụng KHCN thành các loại: - Cho vay bất động sản: cho vay bất động sản là sản phẩm tín dụng dành cho KHCN nhằm đáp ứng nhu cầu mua nhà, hợp thức hóa nhà đất, xây dựng sửa chữa nhà của khách hàng nhưng chưa thể thực hiện được do gặp khó khăn về tài chính. - Cho vay tiêu dùng: cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư. Khách hàng vay là những người có thu nhập không cao nhưng ổn định, chủ yếu là công nhân viên chức hưởng lương và có việc làm ổn định. Số lượng khách hàng vay thường rất đông.
- Cho vay sản xuất kinh doanh: cho vay sản xuất kinh doanh là loại cho vay nhằm bổ sung vốn thiếu hụt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của những cá nhân hay hộ gia đình sản xuất kinh doanh cá thể với quy mô nhỏ - Cho vay nông nghiệp: thực ra cho vay nông nghiệp cũng là cho vay sản xuất kinh doanh nhưng tập trung vào các hộ sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.