Chương 1 Cơ sở lý luận về cải cách hệ thống NHTM ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập 1. Đặc điểm cơ bản của các nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập Kể từ khi Liên Xô và khối các quốc gia Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu tan vỡ vào đầu thập kỷ 90 của thế kỹ XX, quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới đã nhanh chóng chuyển sang một giai đoạn mới. Bối cảnh phát triển mới đó của thế giới được nhìn nhận với nhiều đặc trưng quan trọng: (1) Trật tự thế giới hai cực đã tan vỡ và xu hướng chủ đạo là sự hình thành một thế giới đa cực với nhiều trung tâm phát triển khác nhau; (2) Đồng thời với sự chấm dứt của trật tự hai cực, các nền kinh tế trên thế giới đều có xu hướng tăng cường hội nhập quốc tế; (3) Quá trình hội nhập được tăng cường khiến cho hầu hết các nền kinh tế trở nên thống nhất hơn, cùng chia sẻ với nhau về cách thức điều hành, điều tiết kinh tế vĩ mô cũng như các phương thức hội nhập, bao gồm cả hội nhập bên trong - điều chỉnh, cải cách nền kinh tế từ bên trong cho phù hợp với điều kiện mới và hội nhập bên ngoài - tức là chủ động tham gia vào quá trình hội nhập, liên kết với các đối tác quốc tế khác. Bối cảnh phát triển mới của thế giới thời kỳ từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay đã dẫn tới sự hình thành của nhóm các nền kinh tế đang chuyển đổi, hội nhập.
Khái niệm nền kinh tế đang chuyển đổi, hội nhập được sử dụng để chỉ nhóm các nền kinh tế đang trong quá trình cải cách, chuyển đổi từ hệ thống kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang phát triển kinh tế thị trường tự do. Quá trình chuyển đổi này được thực hiện với một số nội dung chuyển đổi chủ yếu bao gồm: 10 - Tự do hoá kinh tế, theo đó giá cả hàng hoá, dịch vụ sẽ do thị trường quyết định chứ không xác lập bởi các tổ chức kế hoạch hoá tập trung - Quá trình chuyển đổi đòi hỏi phải tăng cường hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập thương mại theo đó các rào cản thương mại sẽ bị xoá bỏ - Quá trình tư nhân hoá được đẩy mạnh để chuyển các doanh nghiệp quốc doanh thành doanh nghiệp tư nhân với hiệu quả cao hơn trong sử dụng các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - Hệ thống tài chính được xây dựng để tạo thuận lợi cho ổn định kinh tế vĩ mô và cho sự chuyển dịch của các dòng vốn tư nhân Với các đặc trưng như vậy, nền kinh tế của hàng loạt các quốc gia khác nhau được xác định là đang trong quá trình chuyển đổi, chủ yếu bao gồm các nhóm quốc gia như: các quốc gia thuộc Liên Xô cũ, các quốc gia Trung và Đông Âu thuộc khối XHCN trước đây, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều quốc gia thuộc thế giới thứ 3. Xem xét ở bối cảnh rộng hơn thì bất kỳ một nền kinh tế nào đang nỗ lực cải cách, thay đổi từ cơ chế kinh tế cũ để chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường đều có thể được coi là nền kinh tế chuyển đổi. Mặc dù vậy, khái niệm kinh tế chuyển đổi thường được gắn với các trường hợp điển hình hơn là các quốc gia Trung và Đông Âu.
Từ năm 2000, Quỹ tiền tệ Quốc tế đã liệt kê các nền kinh tế được coi là đang chuyển đổi như trong Bảng 1. Danh sách các nền kinh tế đang chuyển đổi Phân loại theo khu vực Tên 1. Trung và Đông Âu Albania, Bulgaria, Croatia, Czech, Hungary, 11 Macedonia, Ba Lan, Romania, Slovakia, Slovenia 2. Nhóm thuộc Liên Xô cũ Armenia, Azerbaijan, Belarus, Estonia, Georgia, Latvia, Lithuania, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Nga, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraine, Uzbekistan 3.
Các nước khác Cambodia, Trung Quốc, Lào, Việt Nam, Mông Cổ Nguồn: Transition Economies: An IMF Perspective on Progress and Prospects, IMF. Nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập đứng trước nhiều ngưỡng cửa, nhiều sự lựa chọn, đang trong giai đoạn có những biến chuyển lớn và đứng trước những cơ hội cũng như những thách thức lớn, do đó nó có sự chuyển đổi lớn về mô hình kinh tế, cơ cấu kinh tế, các quan hệ sở hữu, … * Mô hình kinh tế tổng quát: từ kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giải phóng lực lượng sản xuất, hình thành những động lực phát triển mới cho nền kinh tế. Trên thực tế, những thay đổi sâu sắc được thực hiện thông qua việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đẩy mạnh hội nhập quốc tế. * Quan hệ sở hữu chuyển đổi theo hướng đa dạng hóa các hình thức sở hữu, từng bước phân định quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền quản lý.
Hình thành cơ cấu kinh tế nhiều thành phần vận hành 12 theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng hợp tác, cạnh tranh phát triển trong môi trường kinh doanh ngày càng được thể chế hóa thống nhất, thông thoáng, bình đẳng. Kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Tỷ trọng kinh tế Nhà nước trong GDP và tổng đầu tư xã hội đã giảm đáng kể, trong khi tỷ trọng khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng. Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực then chốt, bảo đảm vai trò trụ cột cho nền kinh tế.
Từng bước hình thành một số doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, phát triển thương hiệu, vươn ra cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới. * Quan hệ quản lý được chuyển đổi từng bước từ hành chính, mệnh lệnh, tập trung, quan liêu sang phân công, phân cấp, phối hợp, tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Cải cách hành chính Nhà nước thu được những kết quả đáng khích lệ, từng bước xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường. Chức năng, nhiệm vụ, bộ máy tổ chức, phương thức hoạt động của Nhà nước được điều chỉnh hợp lý hơn theo hướng giảm các đầu mối và khâu trung gian, thực hiện nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; tách quản lý Nhà nước với hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ quan hành chính công với tổ chức sự nghiệp cung cấp dịch vụ công.
Nhà nước giảm dần sự can thiệp trực tiếp vào các hoạt động thị trường, từng bước chuyển sang chức năng định hướng, hỗ trợ và kiến tạo phát triển. Trên thực tế, thể chế hành chính ngày càng được hoàn thiện và chuẩn hóa. Công tác phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tăng cường trật tự kỷ cương thu được những kết quả nhất định. Nhìn 13 chung, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có những bước cải thiện đáng kể, trở thành một trong những thị trường mới nổi giàu tiềm năng và là địa chỉ hấp dẫn của các nhà đầu tư quốc tế.
* Quan hệ phân phối thay đổi theo hướng phân bổ công bằng và hiệu quả các nguồn lực phát triển như đất đai, vốn, lao động, cũng như cơ hội, điều kiện phát triển theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước và nguyên tắc thị trường; thực hiện phân phối thu nhập và lợi ích theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, mức đóng góp các nguồn lực, cũng như thông qua hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Ý tưởng ban đầu đằng sau cải cách kinh tế ở Đông Âu, nhiều thập kỉ trước, đã là giữ các hình thức cũ của sở hữu nhà nước, trong khi đơn giản tiến hành sự thay đổi triệt để trong các cơ chế điều phối. Nói cách khác, các quan hệ thị trường đã phải được thiết lập giữa các doanh nghiệp quốc doanh. Cách tiếp cận này, được cho cái tên “chủ nghĩa xã hội thị trường” ở Đông Âu, đã không có kết quả.
Cuối cùng, đã phải nhận ra rằng cũng cần đến một cải cách triệt để về quyền sở hữu trước khi nền kinh tế thị trường có thể hoạt động hiệu quả. Sự thừa nhận này được chấp nhận nói chung trong các năm 1990. Tuy nhiên, đã vẫn có nhiều tranh luận về tiến hành thay đổi cơ cấu sở hữu thế nào và nên tiến hành cải cách nhanh ra sao. Khi điều đó xảy ra, tất nhiên diễn tiến của các sự kiện đã khác nhau tùy từng nước và vị trí hiện tại của chúng cũng khác nhau.
Điều quan trọng nhất là để cho các doanh nghiệp tư nhân mới tự do phát triển. Phải chú ý nhất, phải nỗ lực nhất về mặt trí tuệ và phải dùng năng lực hành chính của nhà nước để dỡ bỏ những rào cản đối với các doanh nghiệp mới sao cho việc tham gia thị trường được tự do. Sẽ có lợi để đoạn tuyệt với những thành kiến ý thức hệ và cổ vũ, khuyến khích 14 hàng trăm ngàn doanh nghiệp nhỏ khởi - cuộc trong công nghiệp, trong nông nghiệp và giao thông, và trong các ngành dịch vụ, nơi đã có thiếu hụt nhất trong chế độ cũ. Cũng phải có sự cổ vũ, khuyến khích cho hàng chục ngàn người có khả năng lập các doanh nghiệp cỡ vừa.
Các khoản đầu tư dưới dạng công ty mới được tiến hành trên quy mô số đông. Cũng chính khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa này đã thúc đẩy các hoạt động mới, lành mạnh vào nền kinh tế Nga khi nó bắt đầu phục hồi sau suy thoái nghiêm trọng. Thứ nhất: Thành phần quan trọng nhất của cải cách sở hữu là đảm bảo sự thâm nhập tự do (tự do tham gia kinh doanh) và phát triển một khu vực tư nhân khởi-cuộc. Phải làm cho việc đầu tư trực tiếp vốn nước ngoài vào trong nước là có thể.
Nó cũng mở đường cho đưa vào các công nghệ mới, phổ biến các phương pháp công nghiệp hiện đại, và bằng cách ấy đưa tổ chức công việc hiện đại, sản xuất có kỉ luật và định hướng thị trường vào. Điều này đòi hỏi phải khắc phục hai ác cảm ý thức hệ: ác cảm với vốn tư bản nước ngoài và sự bài ngoại, sợ ảnh hưởng nước ngoài. Thứ hai: Cởi mở với đầu tư trực tiếp nước ngoài.