chương 1, từ đó thể hiện được tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Đây cũng chính là nền tảng để xây dựng khung lý thuyết ở chương 2. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan nợ xấu 2.1 Khái niệm nợ xấu Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN: “nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn); các nhóm nợ trên có các khoản nợ gốc và lãi đã quá hạn từ 90 ngày trở lên.” Theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3, việc phân loại nhóm nợ xấu bao gồm một số tiêu chí cụ thể như sau: “Nợ nhóm 3: nợ gia hạn nợ lần đầu, thời gian quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày. Nợ nhóm 4: nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, là nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
Nợ nhóm 5: Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, nợ quá hạn trên 360 ngày.” Theo Financial Soundness Indicators (2004) của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi (i) tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, (ii) các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, (iii) các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ.” Theo IIF (2019) “các khoản nợ xấu được định nghĩa là các khoản vay mà (1) các khoản thanh toán lãi hoặc gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên; hoặc (2) các khoản thanh toán lãi từ 90 ngày trở lên đã được vốn hóa (tái đầu tư vào số tiền gốc), được tái cấp vốn hoặc được ân hạn (thanh toán chậm theo thỏa thuận); hoặc (3) có bằng chứng để phân loại lại chúng là không có hiệu quả ngay cả khi không có khoản thanh toán quá hạn 90 ngày, chẳng hạn như khi con nợ nộp đơn xin phá sản. Số tiền cho vay được ghi nhận là nợ xấu phải là tổng giá trị của khoản vay được ghi trên bảng cân đối kế toán, chứ không chỉ là số tiền quá hạn.” Theo Cheng (2016) “tỷ lệ nợ xấu (NPL) là tỷ lệ giữa nợ gốc và lãi của các khoản vay không được thanh toán trong một chu kỳ nhất định trên tổng số dư nợ. Tỷ lệ này không chỉ phản ánh được việc không có khả năng trả được nợ gốc và lãi mà còn là chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng các khoản vay ngân hàng. Khi tỷ lệ 10 nợ xấu tăng lên, chất lượng cho vay của ngân hàng giảm và người gửi tiền cũng phải đối mặt với rủi ro lớn hơn.” Nhìn chung đa phần các quốc gia đều nhận định chung nợ xấu dựa trên 2 tiêu chí để xác định: + Định lượng: có thời gian trả nợ quá hạn trên 90 ngày.
+ Định tính: khả năng thanh toán nợ của người vay bị nghi ngờ.2 Khái niệm các yếu tố tài chính Theo Brigham và Ehrhardt (2016), "các yếu tố tài chính là những chỉ số và biến số ảnh hưởng đến tình hình tài chính của một doanh nghiệp, bao gồm doanh thu, chi phí, lợi nhuận, tài sản, nợ phải trả và dòng tiền, v. Đồng thời, theo Black và Scholes (1973), "quản lý rủi ro tài chính liên quan đến việc sử dụng các yếu tố tài chính để giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa lợi nhuận." Nghiên cứu này tập trung vào cách mà các DN và NH có thể sử dụng các chỉ số tài chính để quản lý RR hiệu quả. Do đó, tác giả xác định các yếu tố tài chính tác động đến TLNX của NH nhằm đưa ra hàm ý quản trị cho các nhà quản trị NH thông qua các yếu tố như tỷ suất sinh lời (ROE), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA), chi phí hoạt động trên thu nhập (CIR), quy mô ngân hàng (được tính dựa trên logarit giá trị tổng tài sản của NH) cùng với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, tốc độ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ lệ nợ xấu năm trước.3 Phân loại các nhóm nợ xấu Trên thực tế, giữa các quốc gia khác nhau đều có bộ tiêu chuẩn riêng được đặt ra dùng để phân loại thành các nhóm nợ xấu.1 Phân loại các nhóm nợ xấu trên các quốc gia khác nhau Số Ngân hàng Cách phân loại nợ nhóm “Gồm các khoản quá hạn từ 90 ngày trở lên như (1) tiền Ấn Độ 3 gốc và lãi vay, (2) khoản thấu chi/tín dụng tiền mặt, (3) hoá đơn” 11 “Chủ yếu phân thành 6 nhóm: (1) Thông thường; (2) Theo dõi đặc biệt; (3) Không đạt tiêu chuẩn; (4) Rủi ro mất khả năng thanh toán cao; (5) Không thể phục hồi được và (6) Không thể phục hồi được theo tiêu chí kỹ thuật. Tỷ lệ dự phòng cho 6 nhóm lần lượt là 1%, 3%, 12%, 25%, 50%, 75%.
Argentina 6 Ngoài ra, các khoản vay đặc biệt cần được theo dõi bao gồm những người nợ quá hạn trên 90 ngày có nguy cơ nợ xấu khi không được kiểm soát kịp thời cùng với các khoản đang đàm phán hoặc có thỏa thuận tái cấp vốn, bao gồm các bên nợ mặc dù không thanh toán nghĩa vụ theo các thỏa thuận nhưng đã tuyên bố ý định tái cấp vốn trong vòng 60 ngày sau khi quá hạn.” “Bao gồm 3 nhóm: (1) Nợ quá hạn trên 90 ngày; (2) Các khoản nợ khác không quá 90 ngày nhưng được ngân hàng cho vay phân loại là E, F, G hoặc H và (3) Các khoản vay được đàm phán lại. Mức độ rủi ro được phân loại theo các Brazil 3 cấp độ rủi ro như sau: (B) từ 15 - 30 ngày (C) từ 31 - 60 ngày, (D) từ 61 - 90 ngày, (E) từ 91 - 120 ngày, (F) từ 121 - 150 ngày; (G) từ 151 - 180 ngày và (H) trên 180 ngày. Tỷ lệ dự phòng lần lượt AA(0%), A(0.” “Phân loại thành 5 nhóm chính: (1) thông thường, (2) Hàn Quốc 5 phòng ngừa, (3) dưới tiêu chuẩn, (4) nghi ngờ và (5) tổn thất.” “Bao gồm 5 nhóm: (1) tiêu chuẩn –không có rủi ro tín dụng, (2) phi tiêu chuẩn –rủi ro có thể kiểm soát, (3) khó Nga 5 đòi –RR đáng kể; (4) có vấn đề –RRTD cao, và (5) có khả năng mất vốn – không tồn tại khả năng hoàn trả do mất 12 khả năng thanh toán hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình.” “Bao gồm 4 nhóm: (i) phá sản trên thực tế hoặc gần phá sản – người vay đang trong quá trình thanh lý hoặc không có triển vọng phục hồi, (ii) nghi ngờ người đi vay chưa bị phá sản nhưng gặp khó khăn về tài chính, do đó người cho vay khó có thể nhận được gốc và lãi liên quan khi đến hạn Nhật Bản 4 (iii) cần chú ý đặc biệt các khoản nợ “dưới tiêu chuẩn”, bao gồm các khoản lãi và/hoặc nợ gốc từ 3 tháng trở lên, cùng với các tài sản được cơ cấu lại với sự thay đổi về điều khoản và điều kiện, (iv) bình thường. Tỷ lệ dự phòng cho 3 nhóm cuối lần lượt là 15%, 70%, 100%” “Khi khoản nợ xấu đã quá hạn thanh toán trong 90 ngày, Pháp 1 nó được coi là khoản nợ nghi ngờ không thể thanh toán.” “Phân loại các khoản vay thành 5 loại – (1) tiêu chuẩn, (2) cần chú ý, (3) nhóm nợ xấu bao gồm dưới tiêu chuẩn, (4) Trung Quốc 5 nghi ngờ và (5) có khả năng mất vốn.
TLDP của 5 nhóm lần lượt là 1%, 3%, 25%, 75%, 100%” “Bất kể khoản tín dụng nào mang dấu hiệu không thể hoàn Úc 1 thành nghĩa vụ thanh toán khoản nợ gốc, lãi vay khi đến hạn và chỉ được thanh toán 1 lần.” “Phân làm 4 nhóm nợ chính: (1) nợ mất khả năng thanh toán; (2) nợ dưới tiêu chuẩn - rủi ro xuất hiện tạm thời do Ý 4 các yếu tố khách quan; (3) khoản vay được cơ cấu lại, phải điều chỉnh các điều khoản ban đầu như gia hạn, giảm lãi suất; (4) quá hạn - các khoản nợ quá hạn liên tục 90 ngày.” Nguồn: Bholat và cộng sự (2016) 13 Trong khi đó tại Việt Nam, cơ chế phân loại nợ được áp dụng theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN được đề ra vào ngày 30 tháng 7 năm 2021 do Thống đốc NHNN: “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” Bảng 2.2 Cơ chế phân loại nợ xấu tại Việt Nam Phân loại theo PP Các nhóm Phân loại theo PP định tính định lượng “Khoản nợ trong hạn và “Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, Nhóm 1 được đánh giá là có khả chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh Đủ tiêu chuẩn năng thu hồi đầy đủ cả giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ nợ gốc và lãi đúng hạn” gốc và lãi đúng hạn.” “Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh Nhóm 2 “Khoản nợ quá hạn giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ Cần chú ý đến 90 ngày” gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ” “Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh Nhóm 3 giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc “Khoản nợ quá hạn từ Dưới tiêu và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này 91 ngày đến 180 ngày” chuẩn được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất.” “Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, Nhóm 4 “Khoản nợ quá hạn từ chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh Nghi ngờ 181 ngày đến 360 ngày” giá là có khả năng tổn thất cao.” 14 “Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, Nhóm 5 “Khoản nợ quá hạn trên chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh Có khả năng 360 ngày” giá là không còn khả năng thu hồi,có mất vốn khả năng mất vốn.” Nguồn: Điều 10, Điều 11 Thông tư 11/2021/TT-NHNN của NH Nhà nước Qua bảng tổng hợp cơ chế phân loại nợ ở các nước trên thế giới, có thể thấy ở Việt Nam có nhiều nét tương đồng nhất so với các quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nga về cách định nghĩa và số nhóm nợ.4 Các lý thuyết liên quan 2.