Chương 1 của nghiên cứu đã chứng minh được tính cấp thiết của đề tài thông qua việc tiếp cận góc độ lý thuyết. Tác giả đã xác định mục tiêu nghiên cứu và hình thành 3 câu hỏi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến Quyết định Thương mại Lợi nhuận-Rủi ro (RRTD) tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam từ 2012 đến 2023. Tác giả cũng đã đề ra các giải pháp nhằm giảm thiểu nguy cơ phát sinh nợ xấu thông qua hoạt động kinh doanh và quản lý trong hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu và cấu trúc, bao gồm 5 chương, được phác thảo.
Chương 2 sẽ cung cấp cơ sở lý thuyết về RRTD tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam, xem xét các tài liệu nghiên cứu trong nước và ngoài nước đã được công nhận nhằm xây dựng các giả thuyết nghiên cứu tại chương 3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Theo Bùi Diệu Anh (2010), Tín dụng ngân hàng là một giao dịch tài chính giữa hai bên, bao gồm bên cấp tín dụng (ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác) và bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác).
Trong giao dịch này, bên cấp tín dụng chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng để sử dụng, với điều kiện là bên nhận tín dụng phải hoàn trả cả gốc và lãi. Theo Jeff Madura (2017) , Tín dụng ngân hàng là quá trình đánh giá tín dụng và cung cấp khoản vay kèm lãi suất cho người vay Frederic S. Mishkin (2010) cho rằng Tín dụng ngân hàng là một loại tài sản tài chính do ngân hàng cung cấp, cho phép khách hàng sử dụng vốn để thực hiện các giao dịch tài chính và cam kết trả lại vốn lẫn lãi suất. Theo những định nghĩa, Ta có thể thấy tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, giúp đáp ứng nhu cầu vốn của các cá nhân và doanh nghiệp, thúc đẩy kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế, hỗ trợ các doanh nghiệp, cũng như điều tiết nền kinh tế.
Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Basel (1999) “Rùi ro tín dụng là khả năng người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo các cam kết đã thỏa thuận”. Nghiên cứu chỉ ra rằng rủi ro tín dụng phát sinh từ việc người vay hoặc đối tác không thể đáp ứng các nghĩa vụ của mình, là một mối đe dọa lớn đối với các tổ chức tài chính, nhà đầu tư và toàn bộ nền kinh tế. Rủi ro này bao gồm vỡ nợ, phá sản và không thanh toán. Để giảm thiểu rủi ro này, có thể áp dụng các chiến lược khác nhau, bao gồm đánh giá rủi ro tín dụng, giám sát và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Đo lường và quản lý rủi 11 ro tín dụng hiệu quả là rất quan trọng để duy trì ổn định tài chính và ngăn ngừa rủi ro hệ thống (Ngân hàng Trung ương châu Âu, 2011). Saunders & Allen (2010) kết luận rằng Rủi ro tín dụng, khả năng người vay không trả nợ hoặc không đáp ứng nghĩa vụ trả nợ, gây ra mối đe dọa lớn cho người cho vay. Để giảm thiểu rủi ro này, có thể áp dụng các chiến lược quản lý rủi ro tín dụng khác nhau, bao gồm điểm tín dụng, xếp hạng tín dụng và thế chấp. Ngoài ra, rủi ro tín dụng có thể được chuyển giao cho các bên khác thông qua phái sinh tín dụng và các cơ chế chuyển giao rủi ro tín dụng khác.
Quy định rủi ro tín dụng hiệu quả là rất quan trọng để duy trì ổn định tài chính và ngăn ngừa rủi ro hệ thống. Tóm lại rủi ro tín dụng là là khả năng xảy ra tổn thất tài chính khi người vay hoặc đối tác không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ hoặc thanh toán theo đúng thời hạn và điều kiện đã thỏa thuận. Rủi ro tín dụng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức tài chính, ngân hàng và các doanh nghiệp khác. Vì vậy, việc quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng là rất quan trọng để giảm thiểu tổn thất tài chính và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.
Các tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng Các tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng thường được sử dụng trong ngành tài chính và ngân hàng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng. Dưới đây là một số tiêu chí phổ biến: Tỷ lệ nợ quá hạn Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, kết luận rằng tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ giữa tổng số nợ quá hạn và tổng số nợ vay của một tổ chức tín dụng. Đây là một chỉ số quan trọng để đánh giá rủi ro tín dụng của tổ chức tín dụng. Nợ quá hạn là các khoản nợ đã vượt quá hạn thanh toán và chưa được trả đầy đủ.
Để đánh giá rủi ro tín dụng, các khoản nợ được phân loại vào các nhóm dựa trên khả năng trả nợ. Theo quy định, nợ được phân loại vào 5 nhóm sau: Nhóm 1: Nợ quá hạn dưới 10 ngày, có khả năng trả nợ cao. Nhóm 2: Nợ quá hạn từ 10-90 ngày, có khả năng trả nợ trung bình. Nhóm 3: Nợ quá hạn từ 91-180 ngày, có khả năng trả nợ thấp.
12 Nhóm 4: Nợ quá hạn từ 181-360 ngày, có khả năng trả nợ rất thấp. Nhóm 5: Nợ quá hạn trên 360 ngày, có khả năng trả nợ hầu như không có. Công thức tính nợ quá hạn: Dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = X 100 Tổng dư nợ cho vay Nợ xấu Nợ xấu là khoản vay không thể trả nợ đúng hạn, nơi người vay không thể trả lãi hoặc gốc vay theo lịch trình. Điều này có thể bao gồm các khoản vay quá hạn, đang trong quá trình tịch thu tài sản hoặc đã được xóa sổ vì không thể thu hồi.
Theo Nguyễn Thị Hoài Phương (2013), nợ xấu là khoản vay khó thu hồi và có thể gây thiệt hại cho ngân hàng. Nợ xấu có thể được phân loại thành hai loại: và nợ nghi ngờ. NPLs là các khoản vay không thể thu hồi và cần được xóa sổ, trong khi nợ nghi ngờ là các khoản vay có thể trở thành NPLs trong tương lai. Nợ xấu thường là nợ thuộc nhóm 3,4,5 (Điều 10 và điều 11 của Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021).
Khái niệm về nợ xấu rất quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính vì nó có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận và ổn định của ngân hàng. Nếu không được quản lý đúng cách, nợ xấu có thể dẫn đến thất bại của ngân hàng. Công thức tính nợ xấu: Tổng nợ xấu ( nhóm 3,4,5 ) Tỷ lệ nợ xấu = X 100 Tổng dư nợ cho vay Dự phòng rủi ro tín dụng Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, dự phòng rủi ro tín dụng là khoản tiền dự kiến có thể mất mát trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tài chính. Khoản dự phòng này được thiết lập để trang trải các tổn thất tiềm năng do không trả nợ, không thanh toán hoặc các rủi ro tín dụng khác.
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ cho vay là một chỉ số quan trọng về quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ cao hơn cho thấy một cách tiếp cận thận trọng hơn trong quản lý rủi ro tín dụng. Dự phòng rủi ro tín dụng được tính toán dựa trên các yếu tố như xác suất không trả nợ, tổn thất khi không trả nợ và mức độ rủi ro của danh mục tín dụng. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về dự phòng rủi ro tín dụng và cung cấp hướng dẫn cho các ngân 13 hàng.
Dự phòng rủi ro tín dụng là một thành phần quan trọng của báo cáo tài chính của ngân hàng, và việc tính toán và quản lý nó là cần thiết để đảm bảo sự ổn định và bền vững của hệ thống ngân hàng. Bảng mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Nhóm nợ Tỷ lệ trích lập dự phòng Nhóm 1 – Nợ tiêu chuẩn 0% Nhóm 2 – Nợ cần chú ý 5% Nhóm 3 – Nợ dưới tiêu chuẩn 20% Nhóm 4 – Nợ nghi ngờ 50% Nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn 100% 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng 2. Các nhân tố bên trong Đối với khách hàng vay Theo Delis và cộng sự (2001), Khả năng tài chính của khách hàng là một yếu tố quan trọng bởi trong việc xác định rủi ro tín dụng.
Nó quyết định khả năng trả nợ của khách hàng và ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Khả năng tài chính tốt được thể hiện qua thu nhập ổn định, tỷ lệ nợ trên thu nhập thấp và lịch sử tín dụng tốt. Khả năng tài chính của khách hàng cũng quyết định khả năng quản lý dòng tiền hiệu quả, giúp thực hiện các khoản thanh toán đúng hạn. Lịch sử tín dụng và tỷ lệ nợ trên thu nhập là hai chỉ số quan trọng của khả năng tài chính, ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng.
Theo Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011), Mục địch sử dụng vốn vay của khách hàng có thể ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng. Khi vay vốn, có nhiều mục đích khách hàng muốn sử dụng, ví dụ như sử dụng để đầu tư, kinh doanh, tiêu dung, hoặc để trả những khoản nợ cũ. Chính vì vậy, ngân hàng cần đánh giá mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng để quyết định cấp tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng một cách hiệu quả. 14 Đối với bên cho vay (các ngân hàng TMCP) Theo Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011), Quy trình cấp tín dụng có thể ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Quy trình tín dụng yếu có thể dẫn đến việc phê duyệt các khoản vay mang rủi ro cao, thiếu sót tài liệu và thiếu sót trong việc giám sát và quản lý rủi ro. Do đó, quy trình cấp tín dụng là một phần quan trọng trong việc quản lý rủi ro tín dụng, cần phải có một quy trình tín dụng tốt để giảm thiểu được rủi ro tín dụng. Theo Lê Khương Ninh và Lâm Thị Ngọc Bích (2014), Nhân sự và các bộ phận ngân hàng đóng một vai trò then chốt trong quản lý rủi ro tín dụng.