Chương 1 đã thực hiện tóm tắt nội dung của đề tài “ Các yếu tố tác động đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam”. Xác định các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Đồng thời, chỉ ra các đối tượng cũng như phạm vi nghiên cứu, mô tả về phương pháp nghiên cứu cũng như đóng góp của đề tài và đưa ra bố cục của khóa luận. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
TỔNG QUAN VỀ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN 2. Khái niệm Theo Golin (2001) Thu nhập lãi cận biên (Net – Interest Margin – NIM) là một chỉ số quan trọng với NHTM và các tổ chức kinh tế tài chính, bởi vì nó cung cấp một cái nhìn hiệu quả trong việc quản lý nguồn thu nhập lãi cũng như chi phí lãi. NIM đo lường bằng cách lấy chênh lệch giữa thu nhập từ lãi (lãi thu từ khoản vay) và chi phí lãi (lãi phải trả cho người gửi tiền và các nguồn vốn khác) chi cho tổng tài sản sinh lời của ngân hàng. NIM thường được tính trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một quý hoặc một năm và được biểu thị dưới dạng phần trăm.
Lãi suất cận biên (NIM) trong ngành ngân hàng là sự chênh lệch giữa thu nhập lãi (tiền lãi thu được từ các khoản cho vay và đầu tư) và chi phí lãi (lãi phải trả cho người gửi tiền và các nguồn vốn khác) chia cho tổng tài sản sinh lời bình quân. Nó là một chỉ số đóng vai trò then chốt trong việc đo lường hiệu quả của NHTM trong việc quản lý lãi suất và tài sản. Tarus và cộng sự (2012). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) là sự chênh lệch giữa tỷ lệ lợi nhuận thu được từ việc cho vay và tỷ lệ lợi nhuận phải trả đối với tiền gửi và các nguồn vốn khác của ngân hàng.
NIM thể hiện khả năng sinh lời của NHTM thông qua việc duy trì các hoạt động kinh doanh cốt lõi. Cách thức đo lường tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM được tính bằng công thức sau: 𝑵𝑰𝑴 = (𝑻𝒉𝒖 𝒏𝒉ậ𝒑 𝒍ã𝒊 − 𝑪𝒉𝒊 𝒑𝒉í 𝒍ã𝒊)/(𝑻ổ𝒏𝒈 𝒕à𝒊 𝒔ả𝒏 𝒔𝒊𝒏𝒉 𝒍ờ𝒊) (2.1) Nguồn: Golin (2001) Trong đó: Thu nhập lãi là tổng số tiền mà NHTM thu được từ việc cho vay tiền, đầu tư vào chứng khoán, tiền gửi ngân hàng, và các hoạt động tài chính khác sau khi đã trừ đi chi phí và các khoản lãi phải trả. 9 Chi phí lãi là tổng số tiền mà ngân hàng phải chi trả để chi trả lãi suất cho khoản vay từ nguồn vốn khác, chẳng hạn như tiền gửi của khách hàng hoặc các nguồn vốn vay từ thị trường tài chính. Tổng tài sản sinh lời giúp nhà quản lý và nhà đầu tư đánh giá sức khỏe tài chính và khả năng sinh lời của NHTM thông qua hoạt động tạo ra doanh thu từ tài sản cố định và lưu động.
Đây là một chỉ số quan trọng trong việc đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng từ các hoạt động tài chính cốt lõi. Nó thường bao gồm tiền gửi tại NHNN, tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác, cũng như tổng cộng các khoản cho khách hàng và mua nợ, và bao gồm các khoản đầu tư vào chứng khoán. Các số liệu này thường được nằm trong Bảng cân đối kế toán của từng NHTM. Ngoài ra, để tính NIM, tổng tài sản sinh lời thường được tính trung bình qua các năm.
Phan Thị Thu Hà (2013) 2. Ý nghĩa của thu nhập lãi cận biên NIM (Net Interest Margin) là một chỉ số quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của ngân hàng, đặc biệt là khả năng sinh lời từ lãi suất. NIM càng cao cho thấy ngân hàng có khả năng làm tăng thêm lợi nhuận từ hoạt động cho vay và đầu tư. Ngược lại, NIM thấp gây giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đến khả năng sinh lời và làm suy yếu sức khỏe tài chính của ngân hàng.
Do đó, NIM là một chỉ số quan trọng giúp duy trì ổn định tài chính, giúp ngân hàng ứng phó tốt hơn với biến động của thị trường. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN Dựa vào các lý thuyết về TNLCB, nghiên cứu cho thấy NIM chịu sự tác động của hai nhóm yếu tố gồm vĩ mô và vi mô. Các yếu tố vi mô Có 5 yếu tố nội tại tác động đến NIM. Dưới đây là các yếu tố cơ bản: Quy mô ngân hàng (SIZE): Các NHTM có quy mô lớn thường mang lại ưu thế khi thu hút tiền gửi từ khách hàng.
Do đó, có thể huy động tiền gửi với lãi suất thấp và cho vay với lãi suất thị trường. Tuy nhiên, quy mô lớn cũng đem lại nhiều rủi ro trong việc vận hành các hoạt động tài 10 chính. Ngược lại, NHTM có quy mô nhỏ thường sẽ khó khăn hơn trong việc cạnh tranh lãi suất so với các NHTM lớn. NHTM nhỏ phải chi trả các chi phí cao hơn và không có nhiều lựa chọn trong việc vận hành nguồn vốn và tài sản.
Trong hầu hết các bài nghiên cứu trong và ngoài nước, đề quy mô tổng tài sản của các NHTM không có sự chênh lệch, chỉ số quy mô của ngân hàng thường được tính bằng hàm Logarithm của tổng tài sản ngân hàng. Trong các bài nghiên cứu trong nước và thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu giữa NIM và SIZE. Theo Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015) cho rằng quy mô ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến NIM vì ngân hàng có quy mô lớn sẽ có lợi thế trong việc cấp vốn, cập nhật công nghệ nhanh chóng và mở rộng mạng lưới hoạt động. Ngược lại, các ngân hàng có quy mô nhỏ sẽ có những bất lợi hơn vì năng lực tài chính yếu hơn, cũng như thách thức trong việc thúc đẩy phát triển và mở rộng mạng lưới kinh doanh dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm.
Mặt khác, cũng có những nghiên cứu không đồng nhất được đưa ra từ các nghiên cứu trước. Theo Awdeh & Hamadi (2012) và Islam & Nishiyama (2016) lại cho rằng SIZE quá lớn của một ngân hàng sẽ dẫn đến chi phí hoạt động và quản lý tăng cao, làm tăng nguy cơ rủi ro tín dụng của của ngân hàng dẫn đến sự sụt giảm của NIM. Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DEP): DEP đóng vai trò quan trọng cấu trúc và hệ thống của ngành ngân hàng. Theo Awdeh & Hamadi (2012) và Endri & Marlina (2020) cho rằng khi DEP tăng, NHTM có nhiều nguồn tài chính mạnh hơn để cho vay, vì lãi suất cho vay cao hơn lãi suất tiết kiệm.
Bên cạnh đó, nếu NHTM tăng DEP mà không vận hành hiệu quả các rủi ro cho vay sẽ làm suy giảm TNLCB. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EQUITY) EQUITY đóng vai trò không thể phủ nhận trong hệ thống và cơ cấu hoạt động của tổ chức này. VCSH đại diện cho nguồn vốn mà các chủ sở hữu ban đầu đầu tư và có thể bổ sung trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. 11 Quy mô vốn chủ sở hữu được đo lường bằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản là thước đo mức độ ngại rủi ro do ảnh hưởng của vốn chủ sở hữu tối thiểu Maudos & Guevara (2004).
Tỷ lệ EQUITY cao có nghĩa với việc NHTM đang phát triển ổn định, giúp NHTM tạo sự uy tín từ khách hàng. Qua đó có thể nhận được nhiều tiền gửi của khách hàng và làm tăng tỷ lệ TNLCB. Tuy nhiên, một EQUITY quá cao phản ánh NHTM không vận hành hiệu quả nguồn vốn của mình, dẫn đến không tối ưu hóa các dịch vụ đầu tư. Đồng thời, việc tăng EQUITY là yếu tố giúp giảm rủi ro tài chính của ngân hàng, ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NHTM.
Theo Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015) cho rằng việc có một lượng vốn đáng kể giúp ngân hàng giảm thiểu tác động của những tổn thất không lường trước được, giúp ngân hàng tận dụng được các lợi thế tài chính của mình và không phải vay thêm, giảm chi phí đi vay và có nguồn lực để tạo ra lợi nhuận qua đó giúp việc gia tăng tỷ lệ TNLCB. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản (LOAN): LOAN được đo lường tỷ lệ các khoản cho vay trên tổng tài sản của ngân hàng. Tỷ lệ này phản ánh mức độ tập trung vào việc cho vay của ngân hàng trong các hoạt động truyền thống của họ. Theo Awdeh & Hamadi (2012), khi LOAN tăng có nghĩa là các NHTM đang tập chung vào hoạt động cho vay, điều này làm tăng tỷ lệ TNLCB vì lãi suất cho vay lớn hơn lãi suất huy động.
Tuy nhiên, theo Endri & Marlina (2020) tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản quá cao cũng có thể dẫn đến tình trạng rủi ro tín dụng, chi phí dự phòng rủi ro tăng cao, từ đó làm giảm lợi nhuận ròng và suy giảm NIM. Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập (COST): Theo Maudos & Guevara (2004) chi phí hoạt động được đo lường bằng tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập của NHTM. Khi tỷ lệ này cao, chứng tỏ NH đã bỏ ra một phần doanh thu cho các chi phí hoạt động như chi phí quản trị, chi phí nhân lực và chi phí khác liên quan đến vận hành. Phần lớn doanh thu tạo ra để bù vào những chi phí này thay vì tạo ra thu nhập, việc gia tăng COST nhìn chung sẽ làm giảm NIM.
Mặt khác, khi NH tập trung vào nâng cao trình độ nhân viên hoặc nâng cấp công nghệ nhằm mục đích hoạt động lâu dài. Mặc dù COST tăng lên, việc đầu tư vào các cải tiến này có 12 thể dẫn đến việc nâng cao tỷ lệ TNLCB. Chi phí hoạt động sẽ tác động chủ yếu tới tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, đặc biệt là các ngân hàng có nguồn thu chủ yếu từ lãi. Các yếu tố vĩ mô Có 3 yếu tố vĩ mô tác động đến NIM.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP): GDP hay còn được gọi là tổng sản phẩm nội địa hay tổng sản phẩm quốc nội. Đây là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô để đo lường tổng thể các hoạt động kinh tế của quốc gia. Theo Rahman và các cộng sự (2015). Khi nền kinh tế phát triển vượt bậc, doanh nghiệp và các hộ kinh doanh sẽ có xu hướng vay nhiều hơn.
Điều này làm tăng tỷ lệ TNLCB của NH vì họ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn.