Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu thực nghiệm Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Cơ sở lý thuyết tỷ lệ an toàn vốn 2. Khái niệm tỷ lệ an toàn vốn Nhắc tới tỷ lệ an toàn vốn là nhắc tơi sự ra đời của hiệp định Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision- (BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Hiện nay, các thành viên của Ủy ban gồm đại diện ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý.
Ủy ban được nhóm họp 4 lần trong một năm. Một trong những yếu tố nổi bật của các hiệp định Basel I, Basel II và Basel II là đề cập đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR. Hệ số CAR được xem là tỷ số đại diện cho mức độ chấp nhận các khoản lỗ mà các NHTM sẽ phải đối mặt tương ứng với tỷ lệ tài sản có rủi ro hiện tại. Các khái niệm về hệ số CAR được viết thể như sau: Khái niệm 1: “Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) là tỷ lệ giữa vốn cổ phần của ngân hàng và tài sản có ro của ngân hàng đó.
Để một ngân hàng hoạt động ổn định theo các quy định của hiệp ước Basel thì hệ số CAR tối thiêu lớn hơn 8%” (Nguồn: Ngân hàng nhà nước , khái niệm về an toàn vốn ). Khái niệm 2: “Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) là tỷ lệ cho thấy khả năng hấp thụ các khoản lỗi dự kiến xuất phát từ rủi ro hoạt động, rui ro tín dụng của NHTM” (Nguồn: Ngân Hàng Nhà Nước, khái niệm về an toàn vốn). Ý nghĩa của hệ số an toàn vốn tối thiểu: Hệ số an toàn vốn mang những ý nghĩa quan trọng sau: 7 Một là, hệ số CAR được xem là một trong những chỉ tiêu phân loại độ ổn định trong hoạt động của một NHTM bất kỳ. Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%.
Mức vốn càng thấp phản ánh khả năng hấp thụ các khoản lỗ kém, hay đồng nghĩa với rủi ro của ngân hàng đó tăng lên. (Nguồn: Thông tư 41/2016/TT-NHNN) Hai là, hệ số CAR được xem là thước đo mà các nhà quản lý sử dụng để đưa ra các công cụ điều tiết hoạt động của hệ thống NHTM nhằm đảm bảo tính ổn định chung của hệ thống. Lý giải cho điều này chính là NHNN có thể sử dụng hệ số CAR như một chỉ tiêu đo lường tính ổn định của các NHTM. Khi hệ số CAR này giảm xuống do tài sản có rủi ro tăng lên phản ánh rủi ro trong hoạt động của NHTM đang lớn dần.
Ba là, hệ số CAR cũng là tiêu chí mà các nhà quản trị ngân hàng sử dụng để điều tiết vốn nhằm đảm bảo được tính ổn định, an toàn trong hoạt động. Nó cũng là chỉ số cho nhà đầu tư và người gửi tiền căn cứ để đặt niềm tin vào ngân hàng đó. Đo lường hệ số an toàn vốn Hệ“số an toàn vốn được đo lường đầu vào hiệp định Basel, cụ thể các ngân hàng Việt Nam đã hoàn thiện Basel II vào cuối năm 2020. Do đó tác giả trích dẫn cách tính hệ số CAR căn cứ vào hiệp định này: Yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn là một trong ba trụ cột của Basel II (hai trụ cột khác là giám sát đánh giá và kỷ luật thị trường).
Tỷ lệ an toàn vốn đề cập đến ba loại rủi ro: Rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường và tỷ lệ được tính theo công thức: Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2 CAR = Tài sản có điều chỉnh rủi ro (Rủi ro tín dụng + ≥ 8% Rủi ro thị trường + Rủi ro hoạt động) 8 Trong đó, Trong đó, vốn là tổng vốn cấp I (tổng vốn điều lệ, quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển, lợi nhuận giữ lại, và thặng dư vốn cổ phần được phép) và vốn cấp II (tổng tài sản đánh giá lại, quỹ dự phòng tài chính, trái phiếu chuyển đổi và các công cụ nợ khác thỏa mãn nhiều điều kiện). Tuy nhiên, vốn cấp 2 là cần thiết để đáp ứng một số hạn chế, trừ đi các khoản khấu trừ (số tiền được khấu trừ gồm tổng các phần khấu trừ từ vốn cấp 1 và cấp 2, bao gồm lợi thế thương mại, lỗ lũy kế, mua lại cổ phiếu); RWA - Tài sản trọng số rủi ro là tổng giá trị tài sản và giá trị tương đương của tài sản ngoại bảng trong hạn mức rủi ro.”Dựa trên khung sáu trọng số (0%, 20%, 50%, 100%, 150%, 250%). Tổng quan nghiên cứu các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn 2. Tổng quan nghiên cứu tại nước ngoài các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn Trọng tâm của mục này là các nghiên cứu trước đây đã xem xét mối quan hệ giữa mức độ an toàn vốn và các yếu tố của ngân hàng.
Nhiều nghiên cứu đã cố gắng tìm hiểu xem có những yếu tố nào ảnh hưởng đến nguồn vốn của các ngân hàng hay không. Có rất nhiều yếu tố được sử dụng trong các bài nghiên cứu khác nhau để giải thích những thay đổi xảy ra trong tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Một số nhà nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa rủi ro và vốn. Kleff & Weber (2004) tuyên bố rằng quy định Basel liên kết vốn của các ngân hàng với mức độ rủi ro danh mục đầu tư để ngăn ngừa xác suất vỡ nợ.
Kết quả là họ đã xem xét các yếu tố chính có thể có ảnh hưởng đến việc xác định vốn tại các ngân hàng Đức như rủi ro danh mục đầu tư, khả năng sinh lời, quy mô ngân hàng, tiền gửi, dự phòng rủi ro cho vay, áp lực pháp lý, sáp nhập và các cú sốc về quy định và kinh tế vĩ mô. Kết quả của họ cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa tích cực giữa rủi ro danh mục đầu tư, khả năng sinh lời và áp lực pháp lý như các biến độc lập với tỷ lệ an toàn vốn. Tuy nhiên, quy mô ngân hàng có mối tương quan nghịch đáng kể. 9 Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Al-Sabbagh (2004) để xem xét các yếu tố quyết định hệ số CAR tại 17 ngân hàng Jordan trong giai đoạn 1985 đến 1994 trước khi áp dụng tiêu chuẩn Basel và 1995 đến 2001 sau khi áp dụng tiêu chuẩn Basel.
Các biến độc lập được đưa vào mô hình của nghiên cứu là quy mô ngân hàng, tỷ lệ tài sản có trọng số rủi ro, tỷ lệ vốn vay trên tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ chi trả cổ tức và tỷ lệ dư nợ cho vay. Kết quả cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa CAR và tỷ lệ vốn vay trên tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ lệ chi trả cổ tức và mối quan hệ tiêu cực với tỷ lệ dư nợ cho vay, quy mô ngân hàng và tỷ lệ tài sản có rủi ro. Tại các ngân hàng niêm yết tại Jordan, Al-Tamimi & Obeidat (2013) đã kiểm tra câu hỏi tương tự. Nghiên cứu của họ báo cáo mối tương quan thuận đáng kể giữa CAR và cả tỷ suất sinh lợi trên tài sản và rủi ro thanh khoản; và không có mối tương quan nghịch đáng kể giữa CAR và rủi ro tín dụng.
Altunbas và cộng sự. (2007) cũng đã kiểm tra mối quan hệ giữa ba biến số đó là vốn, rủi ro và hiệu quả của ngân hàng. Tổng quan tài liệu của họ cho thấy kết quả mâu thuẫn giữa mức vốn và rủi ro. Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm của họ cho thấy có mối quan hệ thuận chiều giữa mức độ chấp nhận rủi ro, mức vốn và khả năng thanh khoản của các ngân hàng.
Kết quả này đã chứng minh sự quan tâm của các cơ quan quản lý trong việc kiểm soát mức độ rủi ro với một lượng vốn phù hợp. Ngoài ra, họ cũng phát hiện ra rằng sự ổn định tài chính cao hơn của các tập đoàn, vốn là những người đi vay chính, thì mức độ rủi ro và vốn của các ngân hàng càng thấp. Họ đã phát triển ba mô hình cho mỗi mô hình rủi ro, vốn và hiệu quả hoạt động, được coi là biến phụ thuộc riêng lẻ. Các biến được sử dụng để tạo thành ba mô hình thống kê này là; dự phòng rủi ro cho vay, tỷ lệ số nhân vốn chủ sở hữu, tỷ lệ các khoản vay ròng trên tổng tài sản, quy mô ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản và tỷ lệ thanh khoản.
10 Trong bối cảnh của Bồ Đào Nha, Boucinha & Ribeiro (2007) đã kiểm tra các yếu tố quyết định tương tự về vốn và kết quả nhấn mạnh những phát hiện trước đó. Họ chấp thuận giả thuyết "quá lớn để không thành công" vì quy mô của các ngân hàng có tương quan nghịch với mức đệm vốn cần thiết. Họ cũng nhận thấy rằng rủi ro danh mục đầu tư có tương quan thuận với vốn ngân hàng. Về các yếu tố quyết định tỷ lệ an toàn vốn ở các nước đang phát triển, Ahmad, Ariff và skully (2008) đã đo lường tác động của hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng, chất lượng quản lý, áp lực pháp lý, quy mô, thanh khoản và đòn bẩy đối với hệ số CAR.
Nghiên cứu đã đề cập đến một giai đoạn khủng hoảng sẽ khuyến khích hành vi chấp nhận rủi ro. Hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng được đo lường thông qua các khoản nợ xấu như một dấu hiệu của rủi ro tín dụng và chỉ số rủi ro của ngân hàng được đo lường bằng tỷ suất sinh lợi của tài sản cộng với số nhân vốn chủ sở hữu chia cho độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời trên tài sản.