CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ 1.1 Các khái niệm về thanh khoản: Duttweiler (2009) cho rằng “Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn – đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định. Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản.” Theo lý thuyết tài chính: “Vai trò của các tổ chức trung gian cung cấp thanh khoản (cụ thể và điển hình là ngân hàng) đó là các ngân hàng có chức năng cung cấp các khoản vay cho các đối tượng cần vốn cũng như huy động cho các đối tượng có lượng tiền nhàn rỗi. Với nhu cầu phát triển mạnh mẽ thì đòi hỏi ngân hàng phải có khả năng đáp ứng nhu cầu giải ngân của khách hàng kịp thời, đồng thời nhu cầu rút tiền từ tiền gửi huy động kịp lúc.
Từ đó sinh ra định nghĩa mở rộng và chuyên biệt hơn thanh khoản ngân hàng.” Theo BIS (2009) “Thanh khoản là một khái niệm chuyên ngành về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và giao dịch vốn của ngân hàng.” Basel định nghĩa “Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn.” Cũng theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng vừa có thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép .” Ở mỗi thời điểm khác nhau, Basel lại có những khái niệm và nhấn mạnh khác nhau về thanh khoản, nhưng chung quy lại đều định nghĩa thanh khoản là khả năng tăng quỹ tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn với chi phí chấp nhận được. 6 Đối với một ngân hàng, tính thanh khoản được xét trên hai góc độ, bao gồm tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn vốn: Tính thanh khoản của tài sản: “được hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản, được đo bằng thời gian và chi phí. Một tài sản được xem là có tính thanh khoản cao nếu việc chuyển tài sản đó thành tiền mặt trong thời gian ngắn và chi phí thấp.” Tính thanh khoản của nguồn vốn: “là khả năng huy động, mở rộng nguồn vốn của ngân hàng, được đo bằng thời gian và chi phí mở rộng nguồn vốn huy động khi cần thiết. Thời gian và chi phí của nguồn vốn huy động càng thấp thì tính thanh khoản cảng cao và ngược lại.2 Đo lường thanh khoản: 1.1 Phương pháp đo lường bằng khe hở thanh khoản: Phương pháp đo lường bằng khe hở thanh khoản: “là phương pháp đo lường sự chênh lệch giữa nguồn vốn và tài sản ở thời điểm hiện tại và tương lai.” Đối với các nhà quản trị ngân hàng, thường chú trọng đến hai khoản mục: “đó là tổng dư nợ cho vay bình quân và tổng nguồn vốn huy động bình quân.
Đa phần các khoản cho vay sẽ được thanh khoản bằng tiền gửi, khi cho vay, các ngân hàng thường ưu tiên tài trợ cho các khoản vay có kỳ hạn dài vì lợi nhuận đem lại lớn hơn nhưng các khoản vay này lại có tính thanh khoản thấp, còn các khoản tiền gửi thì đa phần là các kỳ hạn ngắn. Khi phát sinh nhiều khoản rút tiền gửi có giá trị lớn cùng một lúc và không được báo truớc có thể sẽ gây ra mất thanh khoản cho ngân hàng.” Khe hở thanh khoản chính là khoản chênh lệch giữa tổng dư nợ cho vay bình quân và tổng nguồn vốn huy động bình quân. Khe hở thanh khoản=∑ 𝐃ư 𝐧ợ 𝐜𝐡𝐨 𝐯𝐚𝐲 𝐛𝐪-∑ 𝑵𝒈𝒖ồ𝒏 𝒗ố𝒏 𝒉𝒖𝒚 độ𝒏𝒈 𝒃𝒒 Khe hở thanh khoản thể hiện dấu hiệu cảnh báo về rủi ro thanh khoản trong tương lai của ngân hàng. Nếu khe hở thanh khoản là dương và có giá trị lớn thì ngân hàng 7 buộc phải giảm tiền mặt dự trữ, giảm các tài sản thanh khoản hoặc đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ, dẫn đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng sẽ tăng lên cao.2 Phương pháp đo lường bằng các tỷ lệ thanh khoản: Phương pháp đo lường bằng các tỷ lệ thanh khoản: “là phương pháp tính toán các chỉ số khác nhau được thu thập từ số liệu của bảng cần đối kế toán.
Do đó dự đoán được các diễn biến thanh khoản; các tỷ lệ này gồm: tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản, tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tiền gửi và vốn huy động ngắn hạn, tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản và tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tiền gửi và vốn huy động ngắn hạn.” Nghiên cứu về tính thanh khoản rất quan trọng đối với thị trường tài chính và các ngân hàng, đặc biệt là từ sau khủng hoảng kinh tế 2008. Theo Aspachs (2005) và Nikolau (2009), “tính thanh khoản không đơn giản phụ thuộc vào các yếu tố khách quan bên ngoài (chẳng hạn như thị trường hiệu quả, cơ sở hạ tầng, chi phí giao dịch thấp, số lượng lớn người mua và người bán, đặc tính minh bạch của tài sản giao dịch) mà điều quan trọng là nó ảnh hưởng bởi yếu tố bên trong, đặc biệt là các phản ứng của người tham gia thị trường khi đối mặt với sự không chắc chắn và thay đổi giá trị tài sản.” Cho tới nay nghiên cứu của một số tác giả như Vodova (2011), Aspachs & cộng sự (2005), đã tập trung vào 4 tỷ số thanh khoản sau: Tài sản thanh khoản L1 = Tổng tài sản Tỷ số L1: “cung cấp một thông tin chung về khả năng thanh khoản của ngân hàng. Tức là trong tổng tài sản của ngân hàng tỷ trọng tài sản thanh khoản là bao nhiêu. Tỷ số này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng rất tốt.
Nhưng nếu tỷ lệ này quá cao thì ngân hàng nên xem xét lại tình hình nắm giữ tài sản. Bởi vì tài sản thanh khoản cao thường không sinh lời nhiều.” Tài sản thanh khoản L2 = Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn 8 Tỷ số thanh khoản L2: “sử dụng tài sản thanh khoản để đo lường khả năng thanh khoản là rất tốt. Tuy nhiên, tỷ lệ này tập trung vào mức độ nhạy cảm của ngân hàng khi lựa chọn các loại kinh phí (bao gồm tiền gửi của các hộ gia đình, doanh nghiệp và các tổ chức tài chính khác). Cụ thể, nếu tỷ lệ này lớn hoặc bằng 100% thì điều đó có nghĩa là có khả năng chi trả cho mọi đối tượng nêu trên vào cùng một thời điểm có sự kiện bất thường xảy ra.” Tỷ số này cũng giống L1, tức là tỷ số này cao cũng thể hiện thanh khoản của ngân hàng là tốt.
Khoản cho vay L3 = Tổng tài sản Tỷ số L3: “cho biết có bao nhiêu phần trăm khoản cho vay trên tổng tài sản ngân hàng. Do đó tỷ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng cho vay càng nhiều, tài sản kém thanh khoản càng lớn dẫn đến thanh khoản của ngân hàng bị giảm dần.” Khoản cho vay L4 = Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn Chỉ số L4: “cho thấy tỷ trọng số tiền cho vay trong tổng số tiền huy động được. Tỷ lệ này càng cao thì thanh khoản của ngân hàng càng kém và ngược lại.” Các tỷ số này tương ứng với nhiều nghiên cứu khác nhau sẽ sử dụng làm biến phụ thuộc để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại.3 Các quy định quản lý thanh khoản: 1.1 Các nguyên tắc quản lý thanh khoản của Basel: Ủy ban Basel đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản nhằm đánh giá công tác quản lý thanh khoản trong ngân hàng (Ngân hàng thanh toán quốc tế, 2009) như sau: Nguyên tắc 1: “Mỗi ngân hàng cần thống nhất về một chiến lược quản lý khả năng thanh khoản hàng ngày. Chiến lược này cần được truyền đạt trong toàn ngân hàng.” Nguyên tắc 2: “Hội đồng quản trị của một ngân hàng phải là cơ quan kiểm duyệt chiến lược và các chính sách cơ bản liên quan đến quản lý khả năng thanh khoản của 9 ngân hàng.
Hội đồng quản trị cũng cần đảm bảo là các cán bộ quản lý cao cấp của ngân hàng thực hiện những biện pháp cần thiết để theo dõi và kiểm soát rủi ro thanh khoản.” Nguyên tắc 3: “Mỗi ngân hàng cần có một cơ cấu quản lý để thực hiện có hiệu quả chiến lược về khả năng thanh khoản. Cơ cấu này cần bao gồm sự tham gia thường xuyên của các thành viên thuộc nhóm cán bộ quản lý cao cấp.” Nguyên tắc 4: “Một ngân hàng cần có hệ thống thông tin đầy đủ cho việc đo lường, theo dõi, kiểm soát và báo cáo rủi ro thanh khoản. Các báo cáo cần được cung cấp kịp thời cho hội đồng quản trị của ngân hàng, các cán bộ quản lý cao cấp và các cán bộ có thẩm quyền khác.” Nguyên tắc 5: “Mỗi ngân hàng cần xây dựng một quy trình cho việc theo dõi và đo lường liên tục các yêu cầu cấp vốn ròng.” Nguyên tắc 6: “Các ngân hàng cần phân tích khả năng thanh khoản sử dụng nhiều tình huống dạng nếu thì.” Nguyên tắc 7: “Các ngân hàng cần xem xét một cách thường xuyên những giả thiết được sử dụng trong việc quản lý khả năng thanh khoản để xác định xem giả thiết đó còn giá trị hay không.” Nguyên tắc 8: “Mỗi ngân hàng cần xem xét định kỳ các nỗ lực của mình trong việc xây dựng và duy trì quan hệ với những người nắm giữ tài sản nợ, để đa dạng hoá các tài sản nợ và đảm bảo khả năng bán được các tài sản có của mình.” Nguyên tắc 9: “Các ngân hàng cần có kế hoạch dự phòng bao gồm chiến lược xử lý các vấn đề về khả năng thanh khoản và quy trình xử lý sự suy giảm luồng tiền trong những tình huống khẩn cấp.” Nguyên tắc 10: “Mỗi ngân hàng cần có một hệ thống đo lường, theo dõi và kiểm soát khả năng thanh khoản đối với các ngoại tệ mạnh mà ngân hàng có hoạt động.