chương 1 này đã trình bày để cung cấp thông tin khái quát cấu trúc đề tài luận văn có 5 chương. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. Cơ sở lý thuyết 2. Khái niệm tăng trưởng cho vay của ngân hàng thương mại Theo lý thuyết chung về nghiệp vụ cũng như chức năng của NHTM, cho vay là một trong các hình thức cấp tín dụng của NHTM dành cho khách hàng, theo đó NHTM đóng vai trò là người cho vay và khách hàng là người đi vay (Nguyễn Minh Kiều, 2007).
Cho vay là một trong những nghiệp vụ cơ bản và chủ yếu trong các nghiệp vụ tài sản có sinh lời của các NHTM, do đó tăng trưởng cho vay đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu gia tăng thu nhập, đảm bảo mục tiêu sinh lời và tiến đến gia tăng giá trị NHTM, đó cũng là mục tiêu gia tăng giá trị tài sản cho cổ đông của các NHTM. Nghiên cứu thực nghiệm của Land & McQuade (2014) cho rằng tăng trưởng cho vay của NHTM là sự biến động giá trị dư nợ cho vay cho khách hàng, bao gồm cả nhóm khách hàng cá nhân và tổ chức; nếu NHTM gia tăng quy mô cho vay thì tương ứng khách hàng có thể vay vốn được nhiều hơn để sử dụng cho các mục đích tiêu dùng, đầu tư và sản xuất kinh doanh. Như vậy, tăng trưởng cho vay được tiếp cận trong đề tài này là sự biến động tăng (hoặc giảm) về giá trị của khoản cho vay của NHTM dành cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, có thể được tính theo tháng, quý hoặc năm, hoặc khoảng thời gian khác tùy nhu cầu phân tích. Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng cho vay của ngân hàng thương mại 2.
Lý thuyết thông tin bất đối xứng (Asymmetric information) Thông tin bất đối xứng xảy ra khi một trong các bên giao dịch không biết tất cả và chính xác những thông tin cần biết về bên kia để đưa ra quyết định đúng đắn 8 trong giao dịch. Khi đó, giá cả trên thị trường sẽ có thể quá thấp hoặc quá cao so với giá cân bằng của thị trường (Akerlof, 1970). Bất đối xứng về thông tin có 03 đặc điểm cơ bản: đầu tiên, có sự khác biệt về thông tin giữa các bên giao dịch; thứ hai, có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa các bên; và thứ ba, trong hai bên có một bên có thông tin chính xác hơn. Ngày nay vấn đề thông tin bất đối xứng gần như xuất hiện ở hầu hết các thị trường như: thị trường lao động, thị trường bảo hiểm, thị trường tín dụng,.
Và đặc biệt, trong thị trường tín dụng, khi tính minh bạch của thông tin, khả năng tiếp cận thông tin còn yếu kém thì vấn đề thông tin bất đối xứng càng trở nên phổ biến hơn. Sự xuất hiện của thông tin bất đối xứng là yếu tố quan trọng kìm hãm giao dịch. Thông tin bất đối xứng dẫn tới hai rủi ro chính trên thị trường tài chính: chọn lựa đối nghịch (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard). Đối với hoạt động cho vay của ngân hàng, ngân hàng không thể có đầy đủ thông tin về khách hàng như năng lực tài chính của họ, khả năng trả nợ của họ vì thông tin là bất đối xứng.
Do đó khi nguồn vốn cho vay là có giới hạn, lãi suất cho vay tăng thì lựa chọn bất lợi sẽ xuất hiện (Huỳnh Thế Du, 2004). Dựa vào công cụ lãi suất đi vay, ngân hàng có thể lựa chọn phải người đi vay có rủi ro cao, hệ quả là các khoản cho vay trở nên rủi ro và làm tăng tỷ lệ nợ xấu. Vì vậy, nợ xấu hay nói cách khác là rủi ro tín dụng là một yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định cấp tín dụng của ngân hàng. Sau khi ngân hàng đã cho vay đến khách hàng, khó khăn thứ hai xuất hiện là việc theo dõi kiểm tra khách hàng sử dụng vốn vay, bởi về phía khách hàng, khi đã vay với lãi suất cao thì họ sẽ muốn thực hiện các dự án đầu tư với rủi ro cao để đạt được lợi nhuận lớn, vấn đề này được gọi là hành vi lệch lạc.
Về phía ngân hàng, ngân hàng sẽ nhận lại được đầy đủ vốn gốc và lãi nếu dự án của khách hàng thành công; ngược lại thì ngân hàng có rủi ro mất vốn nếu khách hàng thất bại. Kết luận rút ra từ lý thuyết bất đối xứng thông tin trong hoạt động tín dụng: việc không có đầy đủ thông tin về khách hàng khiến việc cấp tín dụng của ngân hàng luôn tiềm ẩn rủi ro. Do đó rủi ro tín dụng là một vấn đề quan trọng mà ngân hàng cần xem xét trước khi ra quyết định cấp tín dụng. Lý thuyết tăng trưởng cho vay Lý thuyết TTCV dựa trên các quan điểm chi phí khác nhau mà một TCTD cân nhắc khi đưa ra quyết định cấp tín dụng.
Cụ thể: Khía cạnh quan điểm chi phí đại diện: chi phí đại diện phát sinh do mâu thuẫn lợi ích giữa người quản lý ngân hàng (đại diện ngân hàng) và cổ đông. Cụ thể, người quản lý có thể ký những hợp đồng cho vay không vì mục tiêu chung của ngân hàng mà vì tư lợi cá nhân, từ đây phát sinh những rủi ro (chi phí) mà ngân hàng phải gánh chịu. Trong một hợp đồng cho vay, có hai khía cạnh mà ngân hàng quan tâm: (i) lãi suất thu được từ khoản cho vay; (ii) rủi ro tiềm ẩn của khoản vay (khả năng khách hàng không thể trả được lãi hoặc vốn gốc, hoặc cả hai) (Stiglitz & Weiss, 1981). Ngân hàng chỉ có thể ràng buộc khách hàng bằng các điều khoản được ký trên hợp đồng hoặc thông qua các nghiệp vụ khác ngân hàng sàng lọc những khách hàng tốt do ngân hàng khó có thể trực tiếp giám sát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng.
Khía cạnh quan điểm chi phí điều chỉnh: chi phí điều chỉnh có thể hiểu là những chi phí như chi phí in ấn, chi phí quảng cáo,… những chi phí này phát sinh do sự thay đổi các chính sách vĩ mô tác động đến lợi nhuận của ngân hàng, làm lợi nhuận biến động không như mong đợi. Theo Cottarelli & Kourelis (1994), lợi nhuận ngân hàng dựa trên sự chênh lệch lãi suất huy động và cho vay, ngân hàng xác định lãi suất dựa trên nhu cầu của thị trường và khả năng cung ứng dịch vụ của ngân hàng. Vì vậy để giảm biến động do thay đổi chính sách, lãi suất của ngân hàng có xu hướng ít biến động nhằm giảm thiểu các chi phí điều chỉnh. Khía cạnh quan điểm chi phí chuyển đổi: chi phí chuyển đổi là chi phí ngân hàng gặp phải khi cập nhật thông tin khách hàng mới (Klemperer, 1987).
Như đề cập ở quan điểm chi phí đại diện, khi xem xét quyết định cho vay hay không, ngân hàng rất quan tâm đến lợi ích tiềm năng và mức độ rủi ro của khách hàng. Trước khi cho vay, ngân hàng phải bỏ ra một khoản chi phí để tìm hiểu những thông tin liên quan đến khách hàng. Sự tồn tại chi phí chuyển đổi là nguyên nhân dẫn đến xu hướng ngân hàng thường muốn tạo mối quan hệ lâu dài với khách hàng của mình và với những 10 thỏa thuận ngầm trong chiến lược lãi suất của ngân hàng, vì vậy điều này dẫn đến sự kém linh hoạt của lãi suất dưới tác động của chính sách. Khía cạnh quan điểm chia sẻ rủi ro: vì lợi nhuận trong hoạt động cho vay đến từ chênh lệch lãi suất cho vay và huy động nên nếu lãi suất thị trường biến động sẽ gây ra rủi ro cho ngân hàng.
Vì vậy theo Fried & Howitt (1980), để tránh những biến động của lãi suất thị trường, ngân hàng thường có những hợp đồng lãi suất ngầm với khách hàng nhằm chia sẻ rủi ro lãi suất với khách hàng. Theo tác giả, khi chia sẻ rủi ro thì cả hai cùng có lợi và duy trì được mối quan hệ lâu dài. Kết luận rút ra từ lý thuyết TTCV: bên cạnh rủi ro là yếu tố ngân hàng cân nhắc khi cấp tín dụng cho khách hàng, thì các chi phí hoạt động nói chung, chi phí hoạt động tín dụng nói riêng cũng có ảnh hưởng tới việc TTCV của ngân hàng. Hơn nữa, theo quan điểm chi phí điều chỉnh, yếu tố vĩ mô của nền kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí hoạt động của ngân hàng, do đó cũng có ảnh hưởng đến khả năng TTCV của ngân hàng.
Các yếu tố có ảnh hưởng đến tăng trưởng cho vay ngân hàng Như đã đề cập ở trên, mở rộng TTCV của các NHTM là cơ sở nền tảng để bản thân NHTM kỳ vọng có được thu nhập, tuy nhiên mở rộng TTCV cũng đẩy rủi ro tín dụng trong cho vay của NHTM tăng thêm, và nếu không quản trị tốt rủi ro tín dụng thì NHTM có thể không đạt được lợi nhuận như kỳ vọng, và thậm chí có thể rơi vào tình trạng thua lỗ theo lý thuyết đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. Ngược lại, hạn chế tăng trưởng tín dụng hoặc thậm chí là thu hẹp quy mô cấp tín dụng có thể không chỉ mất đi cơ hội tìm kiếm thu nhập từ những khách hàng có những dự án đầu tư khả thi, mà còn có thể đẩy NHTM rơi vào tình trạng dư thừa vốn đã hình thành từ nguồn vốn tiền gửi của khách hàng. Như vậy, các NHTM cần có cơ sở vững chắc để lựa chọn chính sách tăng trưởng tín dụng phù hợp, theo đó nhiều nghiên cứu lý thuyết lẫn thực tiễn đã chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến TTCV của các NHTM rất đa dạng và phức tạp, đó có thể là những yếu tố vi mô thuộc về NHTM nhưng cũng có thể là 11 những yếu tố vĩ mô.