Chương I giới thiệu về tên đề tài và giải thích lý do thực hiện đề tài nghiên cứu trên. Sau khi nhận dạng được vấn đề nghiên cứu, tác giả đã xác định rõ cần nghiên cứu cái gì và đó chính là mục tiêu nghiên cứu. Đồng thời, tác giả cũng nêu lên được các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Từ các câu hỏi nghiên cứu, tác giả đã nêu lên được các phương pháp nghiên cứu, kết cấu và ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm hoạt động cho vay tại ngân hàng thƣơng mại. Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. Cho vay là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới có thể bù đắp các chi phí tiền gửi, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư.Có thể nói nghiệp vụ cho vay là là một nghiệp vụ phức tạp, độ an toàn thấp, rủi ro cao nhưng là một hoạt động không thể thiếu được, quyết định và ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của bất kỳ ngân hàng nào.
Lợi nhuận từ hoạt động cho vay chiếm từ 60% - 80%. Căn cứ vào khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Theo nhà kinh tế học người Pháp, ông Louis Baundin, đã định nghĩa rủi ro tín dụng như là “Một sự trao đổi tài hóa hiện tại đề lấy một tài hóa tương lai” 2.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng Dù đã có nhiều cải cách trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng, rủi ro tín dụng vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra thất thoát và dẫn đến nguy cơ phá sản tại ngân hàng Một số tác giả định nghĩa về rủi ro tín dụng như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Theo Hiệp ước Basel: “Rủi ro tín dụng là rủi ro do tính không chắc chắn về khả năng hay sự sẵn sàng của đối tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng” Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), “Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khả năng khách hàng nợ không thể trả nợ cho chủ nợ” Từ các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay không chi trả được nợ cho người cho vay khi đến hạn phải thanh toán. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tình trạng thiếu vốn hay tính thanh khoản thấp.
Điều này có thể làm giảm hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí phá sản 2.2 Khái niệm về rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thƣơng mại Hoạt động cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng tại ngân hàng thương mại. Xét về bản chất và quan hệ kinh tế có thể nói cho vay là một nghiệp vụ tín dụng chiếm hơn 50% tổng tài sản có và có thu nhập từ cho vay chiếm từ 60% đến 80% tổng thu nhập của ngân hàng thương mại. Hơn nữa rủi ro trong hoạt động kinh doanh có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục cho vay của ngân hàng. Có nhiều quan niệm về rủi ro trong hoạt động cho vay (RRTCV) mà chúng ta có thể dẫn chứng: Theo định nghĩa của Basel II: “Rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”; cũng theo Uỷ ban này, một định nghĩa có thể được nêu ra là “Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 ước trong hợp đồng”, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc/hoặc lãi Theo quyết định 493/QĐ-NHNN, của thống đốc NHNN, tại khoản 1, điều 2 đề cập đến khái niệm RRTCV: “Rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức cho vay do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” Chúng ta có thể hiểu RRTCV là khả năng xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được nợ vay (gồm gốc và/hoặc lãi) 2.3 Các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại các NHTM.
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì rủi ro tín dụng là điều không thể tránh khỏi. Có rất nhiều yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng như: các yếu tố mang tính chủ quan đến từ các chủ thể tham gia trong hoạt động tín dụng như từ phía khách hàng vay vốn; từ phía chính ngân hàng vay vốn và các yếu tố khách quan đến từ môi trường kinh tố vĩ mô,.1 Các yếu tố vĩ mô Môi trƣờng kinh tế Một trong những nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại ngân hàng là môi trường kinh tế. Khi môi trường kinh doanh thay đổi một cách đột ngột, không theo một chu kỳ thì việc kinh doanh của khách hàng đi vay sẽ gặp khó khăn và chính điều này cũng gây nên rủi ro tín dung cho ngân hàng. Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng ổn định thì việc kinh doanh của khách hàng sẽ thuận lợi, khả năng thu hồi nợ vay dễ dàng hơn và rủi ro tín dụng xảy ra thấp.
Ngược lại, vào thời kỳ nền kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc kinh doanh, thậm chí là dẫn đến phá sản nên khả năng khách hàng không trả được nợ đặc biệt là những khoản vay trung và dài hạn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ngoài ra, các chính sách can thiệp của NHTW như lãi suất, lạm phát, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng là nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Chẳng hạn, khi NHTW tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay và khả năng thanh toán của ngân hàng bị thu hẹp, khối lượng tín dụng giảm dẫn đến lãi suất thị trường tăng, trong đó có lãi suất cho vay. Chính điều này gây nên áp lực trả nợ của khách hàng vay và rủi ro tín dụng tăng cao.
Môi trƣờng pháp lý Đây là nguyên nhân gây nên rủi ro phổ biến ở các nước có chính sách quản lý kinh tế không ổn định. Những thay đổi liên tục hay chồng chéo các văn bản về chính sách thuế, các quy định về kinh doanh bất động sản sẽ làm cho doanh nghiệp không chủ động trong việc kinh doanh.2 Các yếu tố vi mô Các yếu tố thuộc về khách hàng vay. Năng lực tài chính của khách hàng đi vay Năng lực tài chính của khách hàng đi vay ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng. Với mỗi cán bộ tín dụng vấn đề quan tâm đầu tiên về khách hàng của mình là khả năng trả nợ.
Một khoản vay vốn được ngân hàng hàng chấp nhận khi khách hàng đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về năng lực tài chính đủ lớn và lành mạnh để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng cần xem xét kỹ lưỡng những nguồn trả nợ nghi ngờ về tính lành mạnh hoặc nguồn đủ mạnh nhưng không ổn định. Nhu cầu, thói quen và đạo đức của khách hàng. Đạo đức khách hàng cũng là yếu tố gây nên rủi ro tín dụng.
Nếu như khách hàng là người có ý thức trả nợ tốt, rủi ro tín dụng thấp thì sẽ kích thích ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay, các quy định sẽ không quá khắt khe. Năng lực quản trị, kinh nghiệm của khách hàng vay. Đây là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến khả năng trả nợ vay. Khi thẩm định cho vay, các cán bộ tín dụng nên ưu tiên những doanh nghiệp, cá nhân có kinh nghiệm, thâm niên và đạt được những thành công trong ngành nghề LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 kinh doanh hơn những người mới gia nhập vào thị trường.
Khách hàng càng non trẻ thì càng dễ dàng gặp rủi ro hơn những khách hàng có kinh nghiệm lâu năm trong nghề. Sử dụng vốn vay của khách hàng. Mục đích sử dụng vốn vay là một trong những căn cứ quan trọng để quyết định cấp tín dụng vốn cho khách hàng. Khi vay vốn ngân hàng đều thể hiện rõ mục đích vay vốn và ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho việc sử dụng vốn đúng mục đích và đảm bảo khả năng trả nợ cho ngân hàng.
Vì vậy việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích vay có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng trả nợ của khách hàng. Khi khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, không đúng với phương án đã gửi ngân hàng thì khả năng xảy ra những rủi ro nằm ngoài những phương án dự phòng và khả năng không trả được nợ và dễ xảy ra Các yếu tố thuộc về ngân hàng cho vay Chiến lƣợc kinh doanh của ngân hàng Đây là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng. Chiến lược kinh daonh lien quan đến khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường. Nó lien quan đến các chiến lược về lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với đối thủ,.