Chương 1: Giới Thiệu. Trình bày lý do lựa chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. phạm vi nghiên cứu, đóng góp nghiên cứu và giới thiệu sơ lược phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu. Trình bày cơ sở lý thuyết về RRTD, các nghiên cứu nước ngoài, nghiên cứu tại Việt Nam về chủ đề RRTD, hạn chế của các nghiên cứu trước cũng như những điểm mà nghiên cứu này có thể khắc phục.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Giới thiệu mô hình nghiên cứu, đo lường biến, phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Trình bày phân tích thực trạng nợ xấu cũng như các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các NHTM, trình bày kết quả kiểm định, hồi quy và thảo luận kết quả hồi quy.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. Từ kết quả nghiên cứu đạt được, nghiên cứu đưa ra kết luận gì trả lời cho câu hỏi nghiên cứu cũng như hàm ý chính sách từ kết quả thu được. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết rủi ro tín dụng 2.
Khái niệm về rủi ro tín dụng Rủi ro hàm nghĩa là khả năng xảy ra tổn thất và có thể diễn ra đối với tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tài chính. Theo Bùi Diệu Anh (2013), rủi ro có thể xuất hiện bất ngờ không được dự báo trước và gây tổn thất lớn tới sự an toàn nhân lực, vật lực và ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận hoạt động của ngân hàng. TS Nguyễn Minh Kiều (2012) thì “RRTD là loại rủi ro phát sinh do khách nợ không còn khả năng chi trả” Theo Trần Huy Hoàng (2011), rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác vay vốn không thực hiện một nghĩa vụ tài chính của mình và/hoặc nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng đối với ngân hàng bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Hiểu một cách khác thì rủi ro tín dụng là rủi ro không thu hồi được nợ khi đến hạn do người vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo nguyên tắc có hoàn trả khi đáo hạn.
Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng, có hai cấp độ: + Khách hàng có khả năng trả nợ nhưng tiến độ trả không đúng hạn. + Khách hàng không có khả năng trả được nợ cho ngân hàng. Theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước: “RRTD là rủi ro khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng”. 9 Theo Van Greuning, H.
Sonja Brajovic Bratanovic.(2009): “RRTD được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. RRTD tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng”.
Như vậy, RRTD tiềm ẩn nguy cơ mất vốn của ngân hàng khi người đi vay (doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội) không thực hiện đúng cam kết trả nợ. Tín dụng là hoạt động quan trọng, mang lại nguồn thu chính cho ngân hàng. RRTD chiếm tỷ trọng cao trong tổng rủi ro hoạt động của ngân hàng. Do đó, RRTD là điều mà hầu hết các ngân hàng quan tâm và quản lý”chặt chẽ.
Phân loại rủi ro tín dụng Trên thực tế có rất nhiều các phân loại RRTD khác nhau, theo Trần Huy Hoàng (2011), căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân loại theo các tiêu chí như sau: Phân loại theo nguồn gốc hình thành rủi ro: Rủi ro giao dịch:“Là những vấn đề trục trặc xảy ra trong quá trình giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng, đặc biệt là xét duyệt cho khách hàng vay. Bao gồm có rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ: - Rủi ro lựa chọn: chính là các vấn đề trục trặc liên quan tới việc thẩm định nguồn tiền của khách hàng và khả năng phân tích tín dụng. Trong đó việc ngân hàng phân tích, xem xét và chọn phương án vay có vai trò khá quan trọng. - Rủi ro bảo đảm: Nó phát sinh từ các tiêu chuẩn được đưa ra để bảo đảm như điều khoản hợp đồng giao kết, chủ thể, cách thức và mức tiền cho vay - Rủi ro nghiệp vụ: Liên quan tới hoạt động cho vay của ngân hàng, khả năng quản lý và tác nghiệp của cán bộ nhân viên.
10 Rủi ro danh mục: Là những phát sinh xảy ra khi ngân hàng quản lý danh mục cho vay không chặt chẽ và khoa học. Được phân loại ra thành 2 loại đó là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại: Chúng bắt nguồn từ bên trong của cá nhân, tổ chức đi vay và nền kinh tế chung. - Rủi ro tập trung: chính là dư nợ dành cho các khách hàng được dồn lại với nhau thành một cụm.
Phân loại theo tính chất của rủi ro Rủi ro khách quan: Là rủi ro do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn, người vay bị chết, mất tích, … dẫn đến thất thoát vốn vay mặc dù ngân hàng cho vay và người đi vay đã thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý và sử dụng khoản vay. Rủi ro chủ quan: Là rủi ro thuộc về lỗi của ngân hàng hoặc bên đi vay vì vô tình hay cố ý gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay. Đối với rủi ro chủ quan nếu có những biện pháp hợp lý có thể khắc phục”hoặc hạn chế được loại rủi ro này. Nguyên nhân và ảnh hưởng của rủi ro tín dụng Các nguyên nhân dẫn đến RRTD được phân loại gồm: Nhóm nguyên nhân từ môi trường:“Cũng như hoạt động của các chủ thể kinh tế khác, hoạt động tín dụng của NHTM chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách quan từ môi trường kinh tế, môi trường chính trị, đặc điểm văn hóa – xã hội, môi trường pháp lý và các tác động chung của khu vực và địa phương… Nhóm nguyên nhân từ phía ngân hàng: Khẩu vị rủi ro của mỗi ngân hàng phản ánh thái độ đối với việc chấp nhận rủi ro ở giới hạn/mức độ nhất định.Trong giới hạn đó, ngân hàng có khả năng và sẵn sàng để hứng chịu, khắc phục và vượt qua các rủi ro.
Đây là một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến RRTD. Thêm vào đó, việc mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩa với việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát của cán bộ tín dụng đối với việc sử dụng 11 khoản vay giảm xuống đồng thời cũng làm cho việc tuân thủ chặt chẽ theo quy trình tín dụng bị lơi lỏng. Cùng với sự yếu kém của đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng là nguy cơ rất cao xảy ra RRTD. Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng: Nhiều khoản vay của khách hàng với mục đích đầu tư vào các danh mục đầu tư nhạy cảm với những biến động của thị trường; khách hàng cố tình lừa đảo để chiếm dụng vốn ngân hàng.
Một nguyên nhân khác dẫn đến RRTD cho NHTM là một số công ty, tổng công ty đứng ra bảo lãnh hoặc uỷ quyền cho các chi nhánh trực thuộc thực hiện vay vốn của NHTM để tránh sự kiểm tra giám sát của ngân hàng cho vay chính. Khi đơn vị vay vốn mất khả năng thanh toán, bên bảo lãnh và uỷ quyền không chịu thực hiện việc trả”nợ thay. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng Đối với bản thân ngân hàng:“Nếu một NHTM có tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ lớn, có những thông tin về việc ngân hàng có nhiều món vay không thu hồi được hoặc ngân hàng đó bị Ngân hàng Nhà nước đưa vào diện kiểm soát đặc biệt thì uy tín của ngân hàng đó bị giảm sút nghiêm trọng. Thêm nữa, RRTD xảy ra sẽ làm giảm khả năng thanh toán của NHTM đối với các nguồn tiền gửi.
Đối với nền kinh tế: Một khi RRTD xảy ra, uy tín và khả năng thanh toán của ngân hàng ảnh hưởng đầu tiên. Tiếp đó, người dân và các tổ chức đang có tiền gửi tại ngân hàng kéo đến ồ ạt đến rút tiền và chấm dứt quan hệ. Do đó, phòng ngừa và hạn chế RRTD không những là vấn đề sống còn đối với ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế, góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. Mục tiêu của quản lý RRTD là tối đa hóa lợi nhuận sau khi đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng với mức độ rủi ro trong”giới hạn cho phép.
Đo lường rủi ro tín dụng Về mặt lý thuyết 12 Nợ“xấu là chỉ tiêu cơ bản phản ánh mức độ RRTD. Nợ xấu là những khoản vay khó hoặc không thể thu hồi. Nợ xấu phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết nhưng người đi vay không có khả năng thanh toán một phần hoặc toàn bộ khoản vay cho người cho vay. Theo IMF một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi, gốc từ 90 ngày hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, các khoản thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng chưa có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng thanh toán vay được thanh toán đầy đủ Theo khoản 13, Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN về phân loại nợ thì các TCTD phải phân loại nợ thành 5 nhóm, trong đó nhóm 1 là nợ đủ tiêu chuẩn, nhóm 5 là nợ xấu nhất và có khả năng mất vốn.
Nợ xấu hay nợ không sinh lời là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 cụ thể: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn.